Chiều 6/10/2026, Mạng lưới Nghiên cứu Chính sách Nông lâm nghiệp tổ chức hội thảo trực tuyến “Thúc đẩy sản xuất cà phê đáp ứng EUDR tại Việt Nam: Chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang sản xuất bền vững tại Tây Bắc”, với sự tham gia của các chuyên gia, tổ chức và đại diện mô hình sản xuất tại Sơn La.
Điều phối hội thảo, ông Nguyễn Mạnh Sơn, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, cho biết EU hiện là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 40% tổng lượng cà phê xuất khẩu của cả nước. Để thích ứng với EUDR, ngành cà phê đang tập trung thu thập dữ liệu vùng trồng gắn với từng nông hộ, xây dựng bản đồ ranh giới rừng quốc gia năm 2020 làm nền tảng truy xuất, đồng thời xây dựng dữ liệu vùng trồng thống nhất và các cơ chế quản lý đồng bộ ngành hàng.
Theo ông Sơn, Tây Bắc đang trở thành vùng sản xuất cà phê Arabica lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, phần lớn cà phê Tây Bắc vẫn sản xuất theo phương thức quảng canh, canh tác truyền thống và phụ thuộc nhiều vào "nước trời". Với địa hình có độ dốc lớn, phương thức này vừa hạn chế năng suất, vừa làm gia tăng nguy cơ xói mòn, suy thoái đất. Trong khi đó, tại Tây Nguyên, nhiều vùng cà phê đã áp dụng thâm canh, khoa học công nghệ, trồng xen cây che bóng, xen canh và có diện tích đạt các chứng chỉ bền vững.
Tại Sơn La, diện tích cà phê đạt gần 40.000 ha và tiếp tục mở rộng. Tại Điện
Biên, riêng diện tích cà phê trồng mới trong năm 2026 đã đạt trên 10.000 ha. Sự
phát triển này mở ra cơ hội nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho các hộ sản
xuất, phần lớn là đồng bào dân tộc".
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh cũng đặt ra những vấn đề về phương thức canh tác và mức độ phù hợp của vùng trồng. Khác với Tây Nguyên, nơi hơn 90% diện tích cà phê cả nước tập trung và nhiều vùng trồng đã tương đối ổn định, phần lớn diện tích cà phê Tây Bắc mới hình thành trong khoảng một thập kỷ gần đây, đặc biệt từ năm 2023 khi giá cà phê xuất khẩu tăng mạnh.
Một số mô hình sản xuất bền vững đang được hình thành tại Sơn La, trong đó cà phê được trồng xen với cây ăn quả, cây che bóng, kết hợp hệ thống tưới hiện đại và các biện pháp cải thiện đất. Tiêu biểu là mô hình của Hợp tác xã Cà phê Bích Thao và mô hình tưới phun mưa tại một số hộ ở xã Mường Chanh được Tổ chức CARE hỗ trợ.
Chia sẻ tại hội thảo, TS Nguyễn Thế Mạnh, Tổ chức CARE, cho biết, trong khuôn khổ Dự án "Thích ứng xanh và bền vững cho các cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La" (Mekong Elevate), đơn vị đang hỗ trợ triển khai một số mô hình nông nghiệp thông minh nhằm phát triển cà phê bền vững.
Trong đó, hệ thống tưới là giải pháp có hiệu quả rõ đối với người dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động ngày càng lớn đến sản xuất. Hệ thống tưới tiết kiệm cho cà phê Arabica tại Sơn La có thể giúp điều tiết thời điểm ra hoa, tiết kiệm công lao động và cải thiện năng suất. Khi kết hợp với thảm cỏ dưới gốc và phân hữu cơ, hệ thống còn góp phần duy trì độ ẩm, cải thiện đa dạng sinh học và sức khỏe đất.
Dù vậy, chi phí đầu tư và nguồn nước vẫn là những điểm nghẽn. Tại những khu vực thiếu nước hoặc địa hình quá cao, việc lắp đặt, vận hành hệ thống tưới gặp nhiều khó khăn.
Từ kinh nghiệm sản xuất trực tiếp, ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc Hợp tác xã Cà phê Bích Thao, cho rằng không thể áp dụng máy móc phương thức canh tác của Tây Nguyên cho Sơn La. Cà phê Arabica tại Sơn La khác cà phê Robusta ở Tây Nguyên về giống, điều kiện địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, thời điểm ra hoa và phương thức thụ phấn. Vì vậy, kỹ thuật tưới cũng như quy trình chăm sóc cần được điều chỉnh theo đặc điểm từng vùng.
"Từ năm 2017, Hợp tác xã Cà phê Bích Thao đã đưa các giống cà phê mới về trồng tái canh, hướng tới khả năng chống chịu biến đổi khí hậu và kháng bệnh; đồng thời tập huấn cho người dân về sử dụng chế phẩm vi sinh, tưới tiêu, tỉa cành, tạo tán và trồng cây che bóng", ông Thao chia sẻ.
Hiện nay, năng suất trên một số diện tích của hợp tác xã trì ở mức 25–30 tấn quả tươi/ha; ở những diện tích thâm canh các giống mới như A16, TN7, con số này có thể đạt tới 40–45 tấn/ha. Tuy nhiên, theo ông Thao, năng suất không phải là mục tiêu duy nhất, mà phải song hành cùng chất lượng để nâng cao giá trị sản phẩm. Đây là vấn đề đáng lưu tâm trong bối cảnh vùng cà phê Sơn La tiếp tục mở rộng quy mô.
Tổng sản lượng cà phê Sơn La có thể đạt khoảng 50.000 tấn nhân xuất khẩu mỗi năm, nhưng cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản hiện chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chưa đến 1%. Điều này cho thấy bài toán của cà phê Tây Bắc không chỉ nằm ở tăng diện tích hay năng suất mà còn ở nâng chất lượng và xác định đúng vùng sản xuất".
Theo TS Nguyễn Thế Mạnh, hiện Sơn La chưa có một nghiên cứu tổng thể về vùng cà phê, trong đó tập hợp đầy đủ dữ liệu về nhiệt độ, điều kiện sinh thái, tính chất đất, thổ nhưỡng, nông hóa và đặc điểm của từng khu vực để xác định nơi thực sự phù hợp với cây cà phê Arabica.
"Không phải khu vực nào của Sơn La cũng có điều kiện giống nhau và phù hợp để sản xuất cà phê Arabica chất lượng cao. Vì vậy, thay vì chỉ nhìn vào khả năng mở rộng diện tích, cần xác định rõ những vùng có điều kiện phù hợp với cây cà phê", TS Mạnh gợi ý; đồng thời đề xuất về lâu dài, các tổ chức, doanh nghiệp và các bên liên quan cần xây dựng một bộ dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa cho Sơn La, bao gồm số liệu khí tượng, dữ liệu đất, thổ nhưỡng và các yếu tố liên quan.
Khi có bộ dữ liệu này, việc đánh giá và xác định những khu vực phù hợp để phát triển cà phê sẽ có cơ sở khoa học và thực tiễn hơn. Đây cũng là nền tảng để Tây Bắc chuyển từ phát triển cà phê theo chiều rộng sang sản xuất bền vững, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường quốc tế và nâng cao giá trị sản phẩm trong dài hạn.
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.