
Ngày 27/5, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng công ty viễn thông Mobiphone tổ chức hội thảo “Hoá đơn điện tử theo Nghị định 123/2020 và Thông tư số 78/2021 – Những điều doanh nghiệp cần lưu ý khi áp dụng”.
Phát biểu tại hội thảo, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI, cho rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế nhất là việc triển khai hệ thống hoá đơn điện tử vào ngành thuế đã tạo bước đột phá mới trong chuyển đổi số.
Để áp dụng hoá đơn điện tử theo quy định mới, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 78/2021/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Luật quản lý thuế số 38 và Nghị định 123/2020/NĐ-CP.
Theo ông Phòng, việc ngành thuế triển khai sử dụng hoá đơn điện tử thay cho hoá đơn giấy là việc làm vô cùng hữu ích cho người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, sau thời gian thí điểm triển khai hoá đơn điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Thông tư 78/2021/TT-BTC với nhiều nội dung mới, mang đến những vướng mắc phát sinh cần giải đáp, xử lý kịp thời cho người nộp thuế. Đặc biệt đối với các hộ, cá nhân kinh doanh (đáp ứng điều kiện Thông tư 78/2021/TT-BTC) là những đối tượng lần đầu sử dụng hoá đơn điện tử.
Ông Nguyễn Văn Phụng, Cục trưởng Cục thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục thuế (Bộ Tài chính), nhận định, qua thời gian thử nghiệm cho thấy, hoá đơn điện tử mang lại nhiều lợi ích cho cả người bán và người mua cũng như cơ quan quản lý thuế.
Với người bán, hoá đơn điện tử tiết kiệm được lượng giấy tờ lớn. Việc lưu trữ cũng đơn giản hơn nhiều. Mặt khác, giao dịch được thực hiện ngay. Tương tự người mua cũng có những lợi ích như vậy.
Đặc biệt, qua giao dịch điện tử, người bán, người mua và cơ quan nhà nước có thể kiểm tra, nắm được các giao dịch, có thể kiểm tra chéo lẫn nhau, không lo lắng hoá đơn của doanh nghiệp bỏ trốn, không lo bị loại trừ chi phí…. khi kết nối dữ liệu về cơ quan thuế, bảo đảm cho một thị trường kinh doanh trung thực, lành mạnh.
Có điều, theo ông Phụng, với các hộ kinh doanh di chuyển lên doanh nghiệp có nhiều thứ thay đổi, như: cách làm khác, quản trị khác, tư duy cũng khác… nên họ sẽ gặp khó hơn khi thực hiện. Lâu nay là hộ kinh doanh, với tư duy “tiền trao, tráo múc”, bán đứt là xong nhưng khi lên thành doanh nghiệp thì cần giữ chứng từ, hoá đơn, đầu ra – đầu vào… thậm chí, chỉ riêng việc viết hoá đơn cũng là mới đối với họ cho nên thực hiện hoá đơn điện tử còn bỡ ngỡ.
Một số ý kiến cũng e ngại, ở một số tỉnh thành, để 100% doanh nghiệp áp dụng hoá đơn điện tử là thách thức không nhỏ vì có tới 90% doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa nên điều kiện về đầu tư hạ tầng và trình độ nhân lực bộ máy chưa tương xứng. Đó là chưa nói đến nhiều doanh nghiệp tại các địa phương miền núi, việc cung cấp dịch vụ hoá đơn điện tử còn một số hạn chế, bất cập...
Để đạt mục tiêu đến 1/7/2022 áp dụng bắt buộc hoá đơn điện tử trên toàn quốc, chấm dứt hoá đơn giấy, hợp đồng điện tử cũ (theo Thông tư 32/2011) ông Phụng cho biết, ngành thuế đã đi rất nhiều bước thận trọng, chắc chắn, hỗ trợ tối đa cho người dân và doanh nghiệp.
Ban đầu là thí điểm triển khai giai đoạn 1 tại 6 tỉnh (Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Phú Thọ và Bình Định). 6 tỉnh này chiếm trên 70% lượng hoá đơn và lượng doanh nghiệp. 57 tỉnh còn lại triển khai từ 21/4/2022.
Ngành thuế đã từng bước yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng mạng, các doanh nghiệp cung cấp giải pháp và hoá đơn phải tăng cường nhân lực, giải pháp để hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp. Đồng thời, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp tỉ mỉ, cẩn thận tại các chi cục thuế, cục thuế. Điển hình có 479 điểm trong toàn quốc hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
“Với cách làm như vậy chúng tôi tin ngày 1/7/2022 chúng ta sẽ đạt được mục tiêu đề ra”, ông Phụng tự tin.
Tuy nhiên ông Phụng cho rằng, để thành công, ngành thuế vẫn rất cần sự hợp tác chặt chẽ của các doanh nghiệp hạ tầng mạng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hoá đơn điện tử.
Đặc biệt cần sự phối hợp, hỗ trợ của các cấp chính quyền, địa phương trong tuyên truyền, phổ biến tới người dân, doanh nghiệp và vận động cũng như bắt buộc (khi đến hạn) doanh nghiệp triển khai thực hiện hoá đơn điện tử.




Trong nửa đầu tháng 10/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 29,25 tỷ USD, tăng 12,41% so với nửa đầu tháng 9, trong khi nhập khẩu giảm 4,9%. Cán cân thương mại xuất siêu khoảng 1,82 tỷ USD, đánh dấu kỳ xuất siêu thứ hai liên tiếp…
Các đại biểu Quốc hội cho rằng chính sách đánh thuế đất bỏ hoang cần phân biệt rõ hành vi cố tình không sử dụng đất với trường hợp chậm triển khai do nguyên nhân khách quan. Xác định đúng đối tượng chịu thuế là điều kiện để hạn chế lãng phí đất đai mà không tạo thêm gánh nặng tài chính bất hợp lý cho người sử dụng đất…
Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội cơ bản tán thành chủ trương này, nhưng đề nghị làm rõ căn cứ áp dụng, thống nhất khái niệm giữa pháp luật thuế và đất đai, tránh chồng chéo nghĩa vụ tài chính...
Tại Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề xuất doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ trong 2–3 năm sau khi vượt ngưỡng quy mô, nhằm tạo khoảng đệm để doanh nghiệp thích ứng với các điều kiện mới khi mở rộng hoạt động…
Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, những vướng mắc trong xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và xử lý thuế VAT đang khiến doanh nghiệp phát sinh chi phí, tồn đọng vốn và gặp khó trong kế hoạch sản xuất...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) đang được xem xét tại nghị trường Quốc hội. Đại biểu Quốc hội thẳng thắn đề nghị quy định trong Luật phải bảo đảm về giá đất bồi thường và tái định cư. Không để việc đơn giản hóa phương pháp định giá làm giảm mức bảo vệ người có đất bị thu hồi. Dân di dời đi tạm cư thì phải có thời hạn.