
Theo nội dung nhiệm vụ phê duyệt, Trường đại học Việt Nhật sẽ được xây dựng ở 2 địa điểm, trong đó Khu 1 bố trí tại khuôn viên Đại học quốc gia Hà Nội ở Hòa Lạc. Diện tích nghiên cứu quy hoạch Khu 1 là 56,27ha, bao gồm: diện tích đất dự án khoảng 51,45 ha, diện tích đất giao thông dùng chung 4,82 ha. Quy mô đào tạo dự kiến đến năm 2032 khoảng 5.000 sinh viên.
Ranh giới Khu 1 có phía bắc giáp tuyến đường 12 và khu ký túc xá số 4 Đại học quốc gia Hà Nội; phía nam giáp tuyến đường số 11, Trường đại học Khoa học tự nhiên và khu Viện nghiên cứu; phía đông giáp khu ký túc xã và đường quốc lộ 21; phía tây giáp tuyến đường số 5, số 9 và khu công viên trung tâm
Nhiệm vụ quy hoạch lần này nhằm 4 mục tiêu chính. Một là, cụ thể hóa đồ án Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2.000 Đại học quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc được Bộ Xây dựng phê duyệt theo Quyết định số 1267/QĐ-BXD ngày 21/10/2014.
Hai là, lập quy hoạch khai thác quỹ đất phù hợp với quy hoạch chung của khu vực và chiến lược phát triển trường Đại học Việt Nhật trong tương lai.
Ba là, đầu tư xây dựng mới trường Đại học Việt Nhật; đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại; tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình quản trị Đại học tiên tiến; góp phần phát triển thành trường đại học chuẩn quốc tế tại Việt Nam về khoa học liên ngành và công nghệ tiên tiến; góp phần thực hiện chiến lược phát triển của Đại học quốc gia Hà Nội; gia tăng các yếu tố cạnh tranh cho kinh tế tri thức của Việt Nam và đóng góp quan trọng trong quan hệ song phương Việt Nam - Nhật Bản.
Bốn là, tạo cơ sở pháp lý để triển khai các dự án đầu tư, các dự án phát triển trường Đại học Việt Nhật... quản lý xây dựng theo quy hoạch chi tiết được duyệt.
Đại học quốc gia Hà Nội được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan lập đồ án Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Trường đại học Việt Nhật - Khu 1, bố trí nguồn vốn và phê duyệt tổng dự toán chi phí quy hoạch theo quy định hiện hành. Thời gian lập đồ án quy hoạch không quá 6 tháng sau khi nhiệm vụ quy hoạch được phê duyệt.
Ở những nấc cao hơn của chuỗi giá trị, chuẩn mực không còn đơn thuần là điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường. Khi được chuyển hóa thành năng lực thực thi, duy trì xuyên suốt và đồng bộ, chuẩn mực sẽ trở thành một phần quan trọng trong sức cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Muốn thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, không chỉ cần khu công nghiệp tốt, chính sách tốt, mà còn phải có môi trường sống đủ tốt để chuyên gia quốc tế yên tâm làm việc, gắn bó và đưa gia đình đến sinh sống…
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.
Pháp luật và xã hội Việt Nam luôn đề cao sự công bằng, nhân văn, bảo vệ lẽ phải và quyền lợi chính đáng của người sở hữu nhà ở, bất kể đó là người Việt Nam hay người nước ngoài. Vì vậy, người nước ngoài có thể chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý khi cần thiết...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.