Con số thì hoàn toàn chính xác nhưng lý giải đang có vấn đề, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh phản hồi thông tin được đại biểu Mai Hữu Tín nêu tại phiên thảo luận của Quốc hội sáng 8/6 về
quan hệ thương mại Việt - Trung.
Thừa nhận quản lý chưa tốt về việc buôn lậu, gian lận thương mại, hàng Trung Quốc vào Việt Nam rất nhiều cũng là đúng, song Bộ trưởng cho rằng chênh lệch số liệu lớn như đại biểu Tín đã nêu “thì không hoàn toàn suy luận như vậy”.
Nguyên nhân có sự chênh lệch, theo lý giải của Bộ trưởng Vinh là hiện nay hầu hết tất cả các số liệu của xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước đều có chuyện như Trung Quốc chứ không phải chỉ có Trung Quốc với Việt Nam.
Ông Vinh nêu ví dụ: với Singapore, năm 2014 Việt Nam thống kê xuất nhập khẩu 9,8 tỷ USD, nhưng Singapore lại thống kê xuất nhập khẩu giữa hai nước 16,1 tỷ, chênh nhau gần gấp đôi. Hay với Nga, năm 2014 Việt Nam thống kê 3,5 tỷ, còn Nga thống kê 4,3 tỷ. Với Bồ Đào Nha thì Thủ tướng nước này đưa ra con số 340 triệu USD và Việt Nam đưa ra con số 268 triệu USD, chênh nhau gần 30%.
Hầu như tất cả các quốc gia đều đang có chênh lệch về cách tính toán, Bộ trưởng khái quát.
Các nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này cũng được Bộ trưởng đề cập.
Đó là, do cách thống kê của các nước khác nhau, thế giới quy định xuất khẩu theo giá FOB, nhập khẩu theo giá CIF, giá CIF là giá đã bao hàm kể cả vận tải, giá trị vận tải từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu và cả bảo hiểm trong đó, tuy nhiên mỗi nước lại áp dụng một cách.
Bên cạnh đó, Trung Quốc không tính giá trị về xuất, nhập khẩu qua đường tiểu ngạch. Mặc dù, qua đường tiểu ngạch không phải buôn lậu, mà bên phía Việt Nam vẫn làm thủ tục đầy đủ, thu thuế đầy đủ. Nhưng phía Trung Quốc không tính con số đó.
Ví dụ cụ thể được Bộ trưởng nêu là năm 2014 Việt Nam xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc, chủ yếu là gạo với 2,14 tỷ USD, nhưng Trung Quốc chỉ ghi nhận 0,71 tỷ USD.
Nêu thêm một số ví dụ khác, Bộ trưởng Vinh nói không thể suy diễn toàn bộ xuất khẩu ngầm của chúng ta sang Trung Quốc là toàn xuất những thứ hàng cấm, như đại biểu nêu toàn là quặng.
Phương pháp tính là xuất xứ hàng hóa, thế giới tính xuất khẩu tính đến nước cuối cùng, còn nhập khẩu tính theo CO, kinh tế nó rất phức tạp, ta không thể nghĩ tưởng đơn giản xuất là xuất, nhập là nhập, ông Vinh nói thêm.
Và vì phức tạp nên Bộ trưởng Vinh nhấn mạnh là con số của các nước đều chênh lệch rất nhiều, mặc dù Liên Hợp Quốc vừa rồi đã bàn rất nhiều lần làm sao để thu hẹp chênh lệch để có so sánh, nhưng chênh lệch vẫn diễn ra ở tất cả các nước.
Sau khi Bộ trưởng Vinh phát biểu, đại biểu Mai Hữu Tín đăng ký phát biểu, nhưng do không còn thời gian nên ông Tín không thể đăng đàn lần thứ hai.
Trao đổi với VnEconomy, đại biểu Mai Hữu Tín nói, Bộ trưởng có nêu sự khác biệt trong cách ghi nhận giá hàng hóa: xuất khẩu theo giá FOB, nhập khẩu theo giá CIF. Điều này ông đã nói rõ trong phát biểu của mình, là theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì con số này (bảo hiểm vận chuyển) vào khoảng 6,6%.
Thứ hai, Bộ trưởng nêu xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc Việt Nam không ghi nhận nhưng Trung Quốc ghi nhận, gây chênh lệch số liệu, điển hình là gạo. Việc này cũng đúng và tôi cũng có nêu trong phát biểu của mình. Nhưng không thể nói con số chênh lệch toàn bộ là xuất khẩu tiểu ngạch, ông Tín nói.
Về chênh lệch giá trị nhập khẩu được đai biểu Tín đề cập, Bộ trưởng Vinh cho rằng có việc đơn vị xuất khẩu của Trung Quốc khai giá xuất khẩu cao ở đầu Trung Quốc nhưng đơn vị nhập khẩu ở Việt Nam kê khai giá nhập khẩu thấp.
“Hãy gọi thẳng tên việc này, đó là gian lận thương mại qua giá hay như dân ta vẫn nói là "lậu giá". Nhập lậu là việc tôi quan tâm nhiều hơn vì tác hại của hàng nhập lậu mới lớn và mới nguy hiểm với kinh tế trong nước. Rất tiếc là đã không có một lời giải thích hợp lý”, ông Tín bày tỏ.
Liên quan đến số liệu chênh lệch giữa xuất khẩu của Singapore vào Việt Nam và nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore, đại biểu Tín đặt câu hỏi, khi Singapore ghi nhận xuất khẩu vào Việt Nam mà Việt Nam không ghi nhận nhập khẩu thì hàng đó đi đâu? Tương tự là vàng từ Thái Lan, ông nói thêm.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Chính phủ ủng hộ mạnh mẽ việc phân cấp, phân quyền cho các đại học quốc gia; đồng thời yêu cầu xây dựng cơ chế đầu tư đặc thù, vượt trội, thúc đẩy đào tạo nhân tài, làm chủ công nghệ chiến lược và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới mạnh mẽ việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực xã hội để phát triển kinh tế thể thao, tạo thêm giá trị, việc làm và đóng góp cho tăng trưởng; đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý và khai thác các thiết chế thể thao.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, nhằm tăng cường chỉ đạo, điều phối và xử lý các vấn đề liên ngành trong quá trình triển khai Chương trình.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, bảo đảm cung ứng điện là vấn đề cấp bách và điều kiện tiên quyết để hoàn thành các mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2026. Đây chính là nền tảng quan trọng để năm 2027 tăng tốc, bứt phá và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.