
Giai đoạn từ 2012 đến hết 2017 xảy ra 139.395 vụ bạo lực gia đình, Uỷ ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội dẫn con số thống kê qua kết quả giám sát.
Báo cáo kết quả giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình giai đoạn 2008 - 2017 vừa được gửi đến các vị đại biểu Quốc hội.
Cơ quan giám sát cho biết, theo báo cáo của Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, số vụ bạo lực gia đình giảm dần qua các năm. Trong giai đoạn từ 2008 đến hết 2011, toàn quốc đã xảy ra 152.873 vụ bạo lực gia đình. Giai đoạn từ 2012 đến hết 2017 xảy ra 139.395 vụ bạo lực gia đình. Trong đó bạo lực về thân thể 69.133 vụ, bạo lực về tinh thần 51.227 vụ, bạo lực về kinh tế 14.331 vụ, bạo lực tình dục 4.338 vụ. Bên cạnh đó, vẫn còn một số tỉnh, thành phố có hiện tượng bạo lực, xâm hại trẻ em bởi người thân gia đình.
Theo số liệu tổng hợp của Cục cảnh sát hình sự, Bộ Công an trong năm 2016 và 2017 có 28 tỉnh, thành phố có từ 30 đến 110 trẻ em bị xâm hại, trong đó bị xâm hại bởi người thân trong gia đình (bố đẻ, bố dượng, anh, em họ…) là 21,3%.
Kết quả giám sát cho thấy, nguyên nhân chủ yếu của bạo lực gia đình là do bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong xã hội và mỗi gia đình. Nhận thức về pháp luật của người dân còn hạn chế cùng với đó là tư tưởng gia trưởng. Cộng đồng, chính quyền, đoàn thể thiếu quan tâm, coi bạo lực gia đình là chuyện riêng tư, chỉ can thiệp khi gây ra hậu quả nghiêm trọng. Kinh tế khó khăn đi kèm với tệ nạn xã hội (nghiện rượu, cờ bạc...) cũng được kể đến như một nguyên nhân khác.
Về hạn chế, báo cáo giám sát nêu rõ số liệu thống kê về bạo lực gia đình cũng như phòng chống bạo lực gia đình (các biện pháp bảo vệ hỗ trợ nạn nạn nhân; số lượng cơ sở trợ giúp nạn nhân…) chưa đáng tin cậy, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng bạo lực gia đình nên không dự báo được tình hình và khó đưa ra giải pháp hữu hiệu trong quá trình thực thi pháp luật.
Hạn chế thứ hai là còn có sự khác nhau giữa thống kê bạo lực gia đình và số liệu thống kê các vụ việc xét xử của Tòa án nhân dân tối cao về vụ việc hôn nhân gia đình có nguyên nhân từ bạo lực gia đình.
Cụ thể, theo báo cáo của Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch thì trong giai đoạn 2008-2017, toàn quốc đã xảy ra 292.268 vụ. Tuy nhiên, theo báo cáo của Tòa án nhân dân Tối cao, từ 1/7/2008 đến 30/9/2017, trong số 1.220.163 vụ ly hôn Tòa đã giải quyết thì có 1.050.687 vụ xuất phát từ nguyên nhân bạo lực gia đình.
Như vậy, theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao thì thực tế vụ việc về bạo lực gia đình sẽ gấp hơn 3 lần so với con số báo cáo của Bộ, cơ quan giám sát nhấn mạnh.
Sự không đáng tin cậy của con số còn ở chỗ khi đoàn giám sát đến làm việc tại xã thì xã không cung cấp được chính xác số lượng vụ việc bạo lực gia đình xảy ra trên địa bàn. Tuy nhiên, trong báo cáo của huyện hoặc của tỉnh thì đều có thống kê tương đối đầy đủ số lượng vụ việc và phân loại theo hình thức bạo lực.
Kết quả giám sát cũng cho thấy việc bố trí ngân sách cho lĩnh vực này còn ở mức hạn chế, chủ yếu được lồng ghép, tích hợp thực hiện cùng với hoạt động khác cho nên hoạt động có triển khai nhưng còn nhỏ lẻ, hiệu quả chưa cao.
Kinh phí chi cho công tác phòng chống bạo lực của Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch giai đoạn 2010-2017 mỗi năm khoảng 1,5 - 2 tỷ đồng/năm (chiếm 0.49% trong tổng chi ngân sách nhà nước của Bộ). Năm 2013 Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án giáo dục chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình và phòng chống bạo lực đến năm 2020 nhưng đến hết năm 2017 mới bố trí được 1,6 tỷ đồng, năm 2018 chưa được phê duyệt.
Ở địa phương, theo báo cáo của Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, đến nay chưa có số liệu thống kê trên toàn quốc do việc chi cho công tác được lồng ghép trong các hoạt động chung của địa phương. Vì vậy, các địa phương không tách được số kinh phí đầu tư cho nhiệm vụ này.
Bên cạnh đó, việc phân bổ ngân sách của các địa phương cho công tác này không đồng đều. Qua công tác giám sát của Ủy ban cho thấy, địa phương nào người đứng đầu quan tâm đến công tác phòng chống bạo lực gia đình thì bố trí ngân sách cho công tác này nhưng vẫn ở mức thấp, chủ yếu chỉ đủ thực hiện một số nội dung tuyên truyền.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Chính phủ ủng hộ mạnh mẽ việc phân cấp, phân quyền cho các đại học quốc gia; đồng thời yêu cầu xây dựng cơ chế đầu tư đặc thù, vượt trội, thúc đẩy đào tạo nhân tài, làm chủ công nghệ chiến lược và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới mạnh mẽ việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực xã hội để phát triển kinh tế thể thao, tạo thêm giá trị, việc làm và đóng góp cho tăng trưởng; đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý và khai thác các thiết chế thể thao.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, nhằm tăng cường chỉ đạo, điều phối và xử lý các vấn đề liên ngành trong quá trình triển khai Chương trình.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, bảo đảm cung ứng điện là vấn đề cấp bách và điều kiện tiên quyết để hoàn thành các mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2026. Đây chính là nền tảng quan trọng để năm 2027 tăng tốc, bứt phá và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.