Sau một năm thực hiện Nghị quyết số 226/2025/QH15, Hải Phòng đã cơ bản hoàn thiện hành lang pháp lý để triển khai các cơ chế đặc thù về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Khu thương mại tự do (FTZ). Dù phần lớn chính sách vẫn trong giai đoạn chuẩn bị, song được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng phát triển dài hạn, thúc đẩy Hải Phòng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, logistics và công nghiệp công nghệ cao của cả nước.
Một trong những nội dung quan trọng nhất của Nghị quyết 226/2025/QH15 là cho phép Hải Phòng thí điểm thành lập Khu thương mại tự do (FTZ) với nhiều cơ chế ưu đãi vượt trội. Sau khi Nghị quyết có hiệu lực, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 205/KH-UBND về triển khai thành lập Khu thương mại tự do và Quyết định số 4068/QĐ-UBND thành lập Khu thương mại tự do Hải Phòng. Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng cũng đã hoàn thiện dự thảo kế hoạch triển khai.
Tuy nhiên, phần lớn các cơ chế đặc thù trong FTZ vẫn chưa phát sinh trường hợp áp dụng. UBND TP. Hải Phòng cho rằng điều này đã được dự báo từ trước, bởi Khu thương mại tự do vẫn trong quá trình hoàn thiện quy hoạch, chuẩn bị đầu tư hạ tầng và lựa chọn nhà đầu tư. Các chính sách thủ tục đầu tư đặc biệt, thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không cần dự án đầu tư, giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá, cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, cấp giấy phép kinh doanh, cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài... đều chưa phát sinh hồ sơ thực tế.
Hiện nay, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đang xây dựng khung giá cho thuê hạ tầng trong Khu thương mại tự do, đồng thời tiếp nhận hồ sơ chủ trương đầu tư đầu tiên đối với dự án khu công nghiệp Tiên Lãng 1. Hải Phòng cũng đang xây dựng các tiêu chí đối với chuyên gia, nhà khoa học, lao động chất lượng cao là người nước ngoài làm việc trong Khu thương mại tự do nhằm tạo sức hấp dẫn đối với các tập đoàn quốc tế.
Bên cạnh đó, Hải Phòng cũng đang xúc tiến thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào khu vực này, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, cảng biển và logistics. Bước đầu đã có một số doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như Công ty TNHH Tàu thuyền Composite công nghệ cao Việt Nam và Công ty TNHH MTV Ô tô Vmass.
Theo UBND TP. Hải Phòng, các chính sách dành cho FTZ được thiết kế có thời gian thí điểm lên tới 10 năm nên hiệu quả của cơ chế sẽ chỉ được thể hiện rõ khi các khu chức năng hoàn thành, doanh nghiệp đi vào hoạt động và các dòng vốn đầu tư được kích hoạt. Khu thương mại tự do được đánh giá trong tương lai sẽ là cực tăng trưởng mới, gắn với kinh tế biển, logistics, thương mại quốc tế và công nghiệp công nghệ cao, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của Hải Phòng trong vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước.
Qua gần một năm triển khai, có thể thấy Nghị quyết 226 không chỉ tạo thêm công cụ để Hải Phòng tháo gỡ các điểm nghẽn về quy hoạch, đất đai, đầu tư và nguồn nhân lực, mà còn mở ra không gian thử nghiệm những mô hình phát triển mới.
Khi các điều kiện về hạ tầng, thể chế và thị trường tiếp tục được hoàn thiện, các cơ chế đặc thù được kỳ vọng sẽ trở thành động lực quan trọng giúp Hải Phòng nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút nguồn lực đầu tư và hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc.
Đáng chú ý, trong quá trình thực hiện, đã có 4 cơ chế đặc thù của Hải Phòng được Trung ương luật hóa để áp dụng trên phạm vi cả nước. Đó là các cơ chế về phân cấp chấp thuận chủ trương đầu tư dự án bến cảng, phân cấp quản lý đường thủy nội địa, cơ chế vay của ngân sách địa phương và thẩm quyền quyết định một số loại phí, lệ phí của HĐND cấp tỉnh. Các cơ chế này sau khi thí điểm tại Hải Phòng đã được áp dụng chung cho các địa phương. Điều này đã chứng minh tính khả thi của các chính sách mà Hải Phòng đề xuất và tiên phong thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, UBND TP. Hải Phòng cũng nhìn nhận còn 32 cơ chế, chính sách chưa phát sinh kết quả thực tiễn. Nguyên nhân chủ yếu là nhiều chính sách có tính đột phá, cần thời gian để hoàn thiện điều kiện triển khai. Một số cơ chế phụ thuộc vào quá trình hình thành Khu thương mại tự do, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường tín chỉ carbon hoặc quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Theo UBND TP. Hải Phòng, từ 1/7/2025, Hải Phòng và Hải Dương hợp nhất hình thành nên thành phố Hải Phòng mới với diện tích hơn 3.194 km2, dân số khoảng 4,6 triệu người và 114 đơn vị hành chính cấp cơ sở đã mở ra không gian phát triển rộng lớn hơn rất nhiều so với trước đây. Trong khi đó, Nghị quyết 226/2025/QH15 được xây dựng trước thời điểm hợp nhất nên nhiều cơ chế, chính sách được thiết kế trên cơ sở quy mô của Hải Phòng cũ, chưa tính đến yêu cầu phát triển của địa phương sau mở rộng.
Trong bối cảnh mới, Hải Phòng đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 13-14%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 và trở thành một trong ba cực tăng trưởng lớn của cả nước. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Hải Phòng cần nguồn lực rất lớn để đầu tư hạ tầng giao thông, cảng biển, logistics, khu công nghiệp, khu kinh tế, đô thị và hạ tầng xã hội.
Tuy nhiên, Hải Phòng là địa phương tự cân đối ngân sách và vẫn phải điều tiết 20% nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất về ngân sách Trung ương. Đây là nguồn lực quan trọng phục vụ đầu tư phát triển, nên việc điều tiết đã làm giảm đáng kể khả năng tái đầu tư của địa phương. Theo UBND TP. Hải Phòng, thực tiễn mới đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu các cơ chế, chính sách mạnh hơn nhằm tăng khả năng huy động nguồn lực xã hội, mở rộng phân cấp, phân quyền và tạo dư địa tài chính để địa phương chủ động đầu tư các công trình động lực.
Với gần 7.300 doanh nghiệp đang hoạt động, thành phố Huế đang đẩy mạnh cải cách hành chính, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Qua đó, địa phương hướng tới xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, trong khi tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của thành phố Huế mới đạt 51,3% kế hoạch được giao. Thành phố đang tập trung rà soát từng dự án, xác định rõ trách nhiệm xử lý vướng mắc, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho những công trình có khả năng hoàn thành và giải ngân.
Thành phố Đà Nẵng đang nỗ lực hạ quyết tâm đạt mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công vào cuối năm 2026, với tổng số vốn được Thủ tướng Chính phủ giao là hơn 17.191 tỷ đồng và Hội đồng nhân dân TP.Đà Nẵng giao là hơn 18.465 tỷ đồng. Đây là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và cải thiện hạ tầng của thành phố.
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2026 đạt 9,75%, thu ngân sách đạt 25.711 tỷ đồng, Nghệ An ghi nhận những đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp. Tỉnh đồng thời cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp phát triển.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.