
Một số cơ quan đã có trụ sở mới nhưng không trả lại trụ sở cũ, trong khi nhiều cơ quan, đơn vị khác phải bỏ tiền tỷ đi thuê trụ sở làm việc. Đây là thực tế được nêu tại báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2013 vừa được Chính phủ gửi đến Quốc hội.
Một trong những hạn chế lớn được chỉ ra tại báo cáo là tiến độ tổng thể về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất chậm so với yêu cầu. Một số bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác này.
Bởi vậy, nhiều cơ sở nhà đất đã phê duyệt phương án được 2 - 3 năm nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện xong phương án được phê duyệt.
Đáng chú ý, một số cơ quan, đơn vị sau khi được phê duyệt phương án xử lý đã tiếp tục cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng quy định, không chấp hành thời hạn thực hiện phương án xử lý. Một số bộ, cơ quan, đơn vị được nhà nước cho phép đầu tư xây dựng trụ sở mới nhưng không trả lại trụ sở cũ, trong khi các cơ quan, đơn vị khác phải đi thuê trụ sở làm việc với kinh phí lớn.
Chỉ tính riêng 6 cơ quan: Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Tư pháp, Kiểm toán nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao, số tiền thuê trụ sở trong năm 2013 là: 117.459 triệu đồng; dự toán 2014 là: 133.970 triệu đồng, báo cáo nêu rõ.
Ở bức tranh chung, Chính phủ cho biết, tổng giá trị tài sản nhà nước đến ngày 31/12/2013 là 930.244,79 tỷ đồng.
Trong đó: tài sản là quyền sử dụng đất 670.715,73 tỷ đồng, tài sản là nhà 207.504,83 tỷ đồng, tài sản là ô tô 19.448,17 tỷ đồng, tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên 32.576,06 tỷ đồng.
Phân tích biến động, báo cáo cho biết tổng giá trị tài sản nhà nước (theo nguyên giá) tăng trong năm 2013 là 25.329,27 tỷ đồng, giảm 4.604,10 tỷ đồng.
Cụ thể, tài sản là quyền sử dụng đất tăng 7.987,92 tỷ đồng, giảm 2.971,50 tỷ đồng. Tổng quỹ đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng đến 31/12/2013 là 2.590 triệu m2 với tổng giá trị 670.715,73 tỷ đồng, chiếm 72,10% tổng giá trị toàn bộ tài sản nhà nước.
Tài sản là nhà tăng 11.745,26 tỷ đồng, giảm 689,54 tỷ đồng. Tổng Quỹ nhà do các cơ quan, tổ chức, đơn vị hiện đang quản lý, sử dụng đến 31/12/2013 là 165,64 triệu m2 với tổng nguyên giá theo sổ kế toán là 207.504,83 tỷ đồng chiếm 22,31% tổng giá trị toàn bộ tài sản nhà nước, báo cáo cho biết.
Còn tài sản là ôtô, Chính phủ báo cáo tăng 2.274,61 tỷ đồng, giảm 844,61 tỷ đồng. Tổng số xe ô tô công hiện có 36.171 chiếc với tổng nguyên giá 19.448,17 tỷ đồng chiếm 2,09% tổng giá trị tài sản nhà nước.
Theo đánh giá của Chính phủ, việc quản lý xe công còn nhiều bất cập, chủ trương đổi mới cơ chế quản lý xe công chưa được thực hiện quyết liệt và chưa được thể hiện tại luật nên việc sử dụng xe ô tô còn lãng phí. Mặc dù đã có quy định về cơ chế khoán nhưng thực tế các đơn vị không thực hiện do quy định mang tính tự nguyện, không bắt buộc.
Xu hướng không trang bị xe công hoặc cắt giảm xe công đang được Chính phủ nhiều quốc gia áp dụng, nhưng chưa thực sự có sự đổi mới mạnh mẽ ở Việt Nam, báo cáo viết.
Bên cạnh đó việc quản lý, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty… chưa thực sự hiệu quả, theo đánh giá của Chính phủ.
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.