
Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 8/2024 (từ ngày 16/8 đến ngày 31/8/2024) đạt 38,02 tỷ USD, tăng 15,5% (tương ứng tăng 5,09 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong kỳ 1 tháng 8/2024 (từ ngày 01/8 đến ngày 15/8/2024).
Kết quả đạt được trong nửa cuối tháng 8/2024 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước trong 8 tháng năm 2024 đạt 512,31 tỷ USD, tăng 17%, tương ứng tăng 74,28 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 8 tháng năm 2024 đạt 347,04 tỷ USD, tăng 15,3% (tương ứng tăng 46,16 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước; tổng trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước là 165,26 tỷ USD, tăng 20,5% (tương ứng tăng 28,12 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, về xuất khẩu, tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 8/2024 đạt 20,73 tỷ USD, tăng 22,5% (tương ứng tăng 3,8 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ trước.
Trị giá xuất khẩu kỳ 2 tháng 8/2024 biến động tăng so với kỳ 1 tháng 8/2024 ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 733 triệu USD (tương ứng tăng 24,4%); máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 617 triệu USD (tương ứng tăng 29,9%); hàng dệt may tăng 349 triệu USD (tương ứng tăng 18,9%); điện thoại các loại và linh kiện tăng 261 triệu USD (tương ứng tăng 11,8%); sắt thép các loại tăng 232 triệu USD (tương ứng tăng 64,8%); ...
Như vậy, tính trong 8 tháng năm 2024, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 265,44 tỷ USD, tăng 15,9%, tương ứng tăng 36,48 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 2 tháng 8/2024 đạt 14,6 tỷ USD, tăng 20,3% (tương ứng tăng 2,46 tỷ USD) so với kỳ trước, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa trong 8 tháng/2024 của nhóm các doanh nghiệp này lên 190,08 tỷ USD, tăng 14,1% (tương ứng tăng 23,45 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 71,6% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Theo chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 8/2024 đạt 17,29 tỷ USD, tăng 8,1% (tương ứng tăng 1,29 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ trước.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 2 tháng 8/2024 tăng so với kỳ trước chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: ngô tăng 183 triệu USD (tương ứng tăng 362,8%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 145 triệu USD (tương ứng tăng 3,1%); thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 132 triệu USD (tương ứng tăng 82,8%); than các loại tăng 111 triệu USD (tương ứng tăng 39,5%)...
Bên cạnh đó, trị giá một số nhóm hàng nhập khẩu trong kỳ 2 tháng 8/2024 giảm so với kỳ trước như dầu thô giảm 171 triệu USD (tương ứng giảm 40%); xăng dầu các loại giảm 91 triệu USD (tương ứng giảm 29,7%); đậu tương giảm 30,5 triệu USD (tương ứng giảm 63,8%); phế liệu sắt thép giảm 30,1 triệu USD (tương ứng giảm 31%)...
Như vậy, tính trong 8 tháng của năm 2024, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 246,87 tỷ USD, tăng 18,1%, tương ứng tăng 37,8 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 2 tháng 8/2024 là 10,95 tỷ USD, tăng 6% (tương ứng tăng 616 triệu USD) so với kỳ trước. Tính trong 8 tháng năm 2024, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp này đạt 156,97 tỷ USD, tăng 16,9% (tương ứng tăng 22,72 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 63,6% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Với kết quả trên, trong kỳ 2 tháng 8/2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 3,45 tỷ USD. Tính trong 8 tháng năm 2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 18,57 tỷ USD, giảm 6,7% so với mức thặng dư 19,9 tỷ USD của cùng kỳ năm trước.
Nhiều mặt hàng quen thuộc như: thanh long, sầu riêng, dừa, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, các loại rau gia vị, rau ăn lá cùng nhiều giống hoa và cây cảnh của Việt Nam đã hiện diện ngày càng sâu tại thị trường Đài Loan...
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 7 tháng đầu năm 2026 với kim ngạch gần 6,78 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, triển vọng những tháng cuối năm được dự báo sẽ đối mặt nhiều sức ép hơn khi các chính sách thuế mới của Hoa Kỳ bắt đầu phát huy tác động, trong khi các yêu cầu kỹ thuật tại nhiều thị trường ngày càng khắt khe...
Bộ Công Thương đang tổ chức rà soát năng lực sản xuất ethanol tại các nhà máy khu vực miền Trung, nhằm đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu E100 khi lộ trình áp dụng xăng sinh học E10 được triển khai trên toàn quốc…
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.