Số liệu thống kê sơ bộ được Tổng cục Hải quan công bố vào hôm 26/9 cho thấy tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 9/2024 (từ ngày 01/9 đến ngày 15/9) đạt 28,55 tỷ USD, giảm 24,9% (tương ứng giảm 9,47 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 8/2024.
Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 9/2024 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/9/2024 đạt 540,72 tỷ USD, tăng 15,9%, tương ứng tăng 74,26 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 366,69 tỷ USD, tăng 14,4% (tương ứng tăng 46,17 tỷ USD).
Cụ thể hơn, về xuất khẩu, tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 9 năm 2024 đạt 14 tỷ USD, giảm 32,5% (tương ứng giảm 6,73 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 8/2024.
Trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 9/2024 giảm so với kỳ 2 tháng trước đó ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 1,17 tỷ USD, tương ứng giảm 31,2%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 582 triệu USD, tương ứng giảm 23,5%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng giảm 494 triệu USD, tương ứng giảm 18,4%...
Như vậy, tính đến hết 15/9/2024, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 279,38 tỷ USD, tăng 14,8% tương ứng tăng 35,98 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, một số nhóm hàng tăng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 10,43 tỷ USD, tương ứng tăng 27,1%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 5,99 tỷ USD, tương ứng tăng 20,7%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 2,66 tỷ USD, tương ứng tăng 7,3%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,89 tỷ USD, tương ứng tăng 21%... so với cùng kỳ năm 2023.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 1 tháng 9/2024 đạt 10,14 tỷ USD, giảm 30,6% tương ứng giảm 4,46 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 8/2024. Tính đến hết ngày 15/9/2024, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp này đạt 200,18 tỷ USD, tăng 12,9%, tương ứng tăng 22,93 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 72% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Theo chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 9/2024 đạt 14,55 tỷ USD, giảm 15,8% (tương ứng giảm 2,74 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 8/2024.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 9/2024 giảm so với kỳ 2 tháng 8/2024 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng giảm 467 triệu USD, tương ứng giảm 20,5%; than các loại giảm 175 triệu USD, tương ứng giảm 44,7%;.
Như vậy, tính đến hết 15/9, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 261,34 tỷ USD, tăng 17,2% (tương ứng tăng 38,28 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó một số nhóm hàng tăng mạnh như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 15,24 tỷ USD, tương ứng tăng 26%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 4,65 tỷ USD, tương ứng tăng 16,3%; kim loại thường khác tăng 1,34 tỷ USD, tương ứng tăng 25,5%; sắt thép các loại tăng 1,27 tỷ USD, tương ứng tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2023.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ này đạt 9,59 tỷ USD, giảm 12,4% (tương ứng giảm 1,36 tỷ USD) so với kỳ 2 tháng 8/2024. Tính đến hết ngày 15/9/2024, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp này đạt 166,51 tỷ USD, tăng 16,2% (tương ứng tăng 23,25 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023, chiếm 63,7% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Dựa trên các số liệu trên, trong kỳ 1 tháng 9 năm 2024, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 546 triệu USD. Tính từ đầu năm nay đến hết ngày 15/9, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 18,04 tỷ USD.




Trong 6 tháng đầu năm 2026, mạng lưới doanh nghiệp Việt kiều và cộng đồng doanh nghiệp châu Á tại khu vực Nam Hoa Kỳ tiếp tục đóng vai trò cầu nối quan trọng trong thúc đẩy thương mại song phương, mở rộng hệ thống phân phối hàng Việt và tăng cường kết nối doanh nghiệp hai nước...
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, đồng thời nhấn mạnh doanh nghiệp là lực lượng đóng vai trò then chốt quyết định thành bại của hành trình chuyển dịch năng lượng bền vững...
Thông tin từ Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR - đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam) cho biết, đơn vị đã hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu EPC cho Dự án Nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và chuẩn bị các nội dung để tổ chức lễ ký hợp đồng này vào ngày 9/7/2026.
Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, trong những tháng cuối năm 2026, EVN sẽ tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn, lưới điện trọng điểm và chuẩn bị sẵn sàng phương án trong trường hợp nhu cầu điện tăng trưởng cao hơn…
Hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, kinh tế tư nhân được xác định là động lực then chốt của quốc gia. Việc đột phá cải cách thể chế, chuyển đổi tư duy từ quản lý sang kiến tạo và phục vụ là giải pháp cấp thiết để khơi thông nguồn lực, giúp doanh nghiệp bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Việt Nam đang từng bước làm chủ công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ; phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư, hướng đến phục vụ cộng đồng, người bệnh... Đó là hai trong số rất nhiều hạng mục mà Việt Nam đang nỗ lực trong công cuộc xây dựng nền công nghiệp hạt nhân hiện đại.