
Lần tăng giá xăng dầu vừa qua sẽ chính thức bắt đầu cho việc nâng toàn bộ mặt bằng giá năng lượng ở Việt Nam.
Và như vậy, đây không còn là câu chuyện của giá dầu hay của giá cả nói chung nữa. TS. Lê Đăng Doanh muốn nói về một câu chuyện lớn phía sau cái bảng giá ở mỗi cây xăng...
TS. Lê Đăng Doanh:
Sau ngày giá xăng dầu tăng, tôi đi taxi từ Nội Bài về đây (đường Lạc Long Quân, Hà Nội - PV) giá cước đã tăng từ 150.000 lên 170.000 đồng. Như vậy là giá taxi đã tăng 13%. Rồi giá điện, giá than, giá gas và nhiều mặt hàng khác sẽ tăng theo.
Khoảng ba tháng nữa tác động của giá xăng dầu tới mặt bằng giá cả mới thật sự bộc lộ cơ bản. Chắc chắn chỉ số tăng giá sẽ không như dự báo của Bộ Tài chính và lạm phát sẽ ở hai con số.
Tôi cho rằng việc Chính phủ tăng giá xăng dầu là bất khả kháng, bởi giá thế giới tăng, sức chịu đựng bù lỗ đã đến chân tường và nếu cố giữ giá thì buôn lậu xăng dầu qua biên giới sẽ rất khó kiểm soát. Chúng ta đã nín nhịn tăng giá từ nhiều tháng trước, nhưng càng nín nhịn thì sức nén của lò xo càng lớn và đến nay hết chịu nổi.
Các giải pháp kiềm chế giá từ trước đến nay chỉ mang tính tình thế nên không đủ hiệu lực. Chính phủ và Quốc hội đã nói rất nhiều đến việc chống lạm phát, bình ổn giá nhưng lúc này chúng ta đã phải tăng giá mặt hàng quan trọng nhất, khởi đầu cho những "cơn bão" giá.
Như vậy lúc này, giá xăng dầu không còn là câu chuyện của giá hay của xăng dầu nữa. Vì hiện nay toàn bộ mặt bằng giá năng lượng của chúng ta đã tiến lên một mức mới, ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc đến các mặt kinh tế - xã hội.
Và như vậy, giải pháp phải là câu chuyện của toàn nền kinh tế với cơ cấu, hiệu quả mới kèm theo những kỹ thuật điều hành tương ứng.
Cụ thể là chúng ta cần làm gì, thưa ông?
Giá dầu thế giới lên nhưng các quốc gia có nhu cầu năng lượng lớn hơn chúng ta nhiều mà họ không quá sốc. Trung Quốc lạm phát cũng chỉ 5,4%; Singapore chỉ 3%. Các quốc gia đó có thể "bình thản" vì năng lượng của họ không quá phụ thuộc vào dầu.
Trong cơ cấu năng lượng đã có điện hạt nhân, thủy điện, gió, năng lượng mặt trời, khí… Hiệu quả sử dụng năng lượng của họ rất cao. Chẳng hạn một chiếc ôtô tải của Nhật sử dụng 26 ngày/tháng, còn Việt Nam chỉ được 18 ngày. Chiếc xe đó Nhật dùng 22 giờ/ngày nhưng ở Việt Nam là 8 giờ. Xe của họ chạy hai chiều (cả đi và về đều chở hàng) nhưng xe của Việt Nam cơ bản là chạy một chiều.
Bên cạnh trình độ sản xuất thì ý thức sử dụng năng lượng cũng được người dân một số nước đề cao. Ngay ở Lào, trước tình hình giá dầu lên, cảnh sát ở Vientiane đã thực hiện chỉ thị: không đi tuần bằng ôtô mà bằng xe đạp. Giá xăng dầu tăng nhưng các loại xe của chúng ta, nhất là xe công, vẫn nghênh ngang khắp nơi.
Giá xăng dầu phi mã như vậy nhưng dường như ý thức sử dụng tiết kiệm, hiệu quả ở người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước gần như không có.
Ông có thể đánh giá gì về hiệu quả của các giải pháp chống tăng giá nói chung?
Cách đây hơn 30 năm, người Nhật từng khốn đốn vì phụ thuộc giá xăng dầu cũng như các năng lượng khác. Họ xây dựng một chiến lược cho toàn nền kinh tế, phát động toàn xã hội, cải cách sâu rộng, toàn diện: tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Các chương trình đó có bài bản, từ hệ thống tiêu chí, chế tài đến điểm đột phá… đều rất nghiêm túc. Sau ba năm họ đã đạt một kết quả khó ngờ: giảm 50% tiêu hao năng lượng/đơn vị sản phẩm. Tức là chống tăng giá, chống lạm phát phải có một chiến lược quốc gia, tổng thể và toàn diện.
Theo ông, chiến lược đó có thể xây dựng trên cơ sở nào?
Trước hết, Chính phủ cần thông tin đầy đủ, kịp thời, rõ ràng các con số dự báo giá thế giới, giá trong nước sẽ tăng như thế nào, lộ trình tăng giá, chủ trương, kế hoạch xóa bỏ bao cấp giá các mặt hàng quan trọng ra sao tới toàn dân. Kèm theo, nhà nước phải xây dựng một chiến lược dài hạn và đầy đủ về sử dụng năng lượng với các mục tiêu hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất để phát động rộng khắp xã hội.
Chúng ta có thể đề ra chỉ tiêu: 3-5 năm tới sẽ giảm 30% tiêu hao năng lượng/đơn vị sản phẩm chẳng hạn. Để đạt điều đó cần phải tính đến cơ cấu kinh tế, dây chuyền công nghệ, qui trình sản xuất… sao cho các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng ngày một cao.
Ví dụ: để làm ra 500 USD, người Nhật sản xuất chiếc máy ảnh Canon 500 gram, người Mỹ làm một phần mềm chứa trong sản phẩm 200 gram, còn chúng ta thì phải lao lực để sản xuất hàng mấy tấn gạo…
Nhằm tiết kiệm, chúng ta cần thiết lập những tiêu chí cụ thể kèm chế tài và cán bộ, đơn vị nhà nước phải làm gương. Nhân cuộc khốn khó về giá xăng dầu tăng lần này, chúng ta có thể phát động chương trình tiết kiệm và sử dụng một cách hiệu quả các nguồn năng lượng như bài học của Nhật Bản…
Bên cạnh đó, cần có chiến lược khai thác các nguồn năng lượng khác.
Thưa ông, giải pháp nào có thể giải quyết mâu thuẫn giữa bình ổn giá và xóa bỏ bao cấp trong giá xăng dầu?
Hiện chúng ta đang lấy tiền từ bán dầu thô bù lỗ cho xăng dầu và lấy lãi của thủy điện bù lỗ cho nhiệt điện. Theo tôi, Nhà nước nên đứng sang bên, đừng quản lý hai mặt hàng này mà dành cho các doanh nghiệp tự kinh doanh bên cạnh một quĩ bình ổn, tức là quĩ dự trữ khi giá thế giới tăng. Quĩ này thành lập từ nguồn chính là tiền bù lỗ nói trên.
Đồng thời, cần xây dựng những cơ chế linh hoạt để doanh nghiệp có thể chủ động tăng giảm giá từ từ, tuân theo thị trường nhưng dựa vào quĩ dự trữ mà không gây biến động lớn cho thị trường.
Thưa ông, dù làm chủ được giá năng lượng vẫn chưa phải là đã làm chủ được thị trường để chống lạm phát?
Chống lạm phát, theo tôi, cần thêm một số chính sách về tài chính tiền tệ. Chúng ta có thể nghiên cứu cách tăng lãi suất tiết kiệm để thu tiền về. Tiền đó sẽ dành cho những dự án, doanh nghiệp có tính khả thi vay.
Tôi rất e ngại việc chống lạm phát bằng phát hành trái phiếu Chính phủ. Vì như vậy tiền lưu thông được Nhà nước hút về nhưng lại đổ vào các dự án, các doanh nghiệp nhà nước rất lâu thu hồi vốn và kém hiệu quả. Đến khi thua lỗ, Nhà nước lại phải móc tiền ra đổ vào những dự án đó. Và như vậy, lạm phát chỉ bị ngăn chậm lại rồi chuyển sang vòng xoáy sau đó mà thôi.
Công cụ thứ hai là tỉ giá cũng cần linh hoạt hơn để phù hợp với thị trường và tránh tác động xấu tới xuất nhập khẩu.




Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.