
Nửa đêm 6/5, cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Nguyễn Văn Bình với các cộng sự mới kết thúc.
Họ rà soát các cân đối, đánh giá các yếu tố tác động và thiệt - hơn trong các phương án xử lý biến động tỷ giá USD/VND. Một yếu tố được đặc biệt chú ý là kỳ vọng của thị trường.
6h sáng hôm sau (7/5), ông Bình chính thức chốt lại phương án cuối cùng, hoàn thiện định hướng triển khai và chuyển bộ phận chuyên trách thực hiện.
Thông tin giải pháp can thiệp thị trường bằng quyết định điều chỉnh được công bố ngay trước giờ mở cửa. Có thể nói, xét về góc độ thông tin, chuỗi thời gian đi đến quyết định chính sách đó hẳn đã khiến nhiều người không kịp trở tay, nhất là ở các giao dịch hợp pháp.
Vì sao dùng hết dư địa?
Ngay sau khi quyết định điều chỉnh tỷ giá đi ra thị trường, đâu đó vẫn có những băn khoăn, tựu trung ở các điểm: vì sao phải điều chỉnh, vì sao lại dùng hết dư địa 1% còn lại mà không phải 0,25% hay 0,5%, và như thế có lợi hay bất lợi cho nền kinh tế?
Dĩ nhiên, trừ trường hợp tính toán và phân tích sai, phải có lợi thì người ta mới làm.
Cũng lưu ý rằng, từ năm 2011 trở lại đây, việc phá giá tiền đồng có lợi - hại thế nào vẫn là chủ đề tranh luận của nhiều chuyên gia, và cả nhà điều hành. Vì có quá nhiều các cân đối vĩ mô xoay quanh. Dù Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng các mô hình lượng hóa để góp phần đưa ra quyết định, nhưng cũng chỉ ở mức độ tương đối.
Bởi lẽ, có những yếu tố có sức nặng ảnh hưởng khó đong đếm. Nếu xem nhẹ, nó có thể lớn nhanh và gây hệ quả lớn hơn nhiều mức độ mà các mô hình trên lượng hóa được. Ở đây là yếu tố kỳ vọng.
Chính yếu tố kỳ vọng cũng giúp giải thích vì sao Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh luôn 1% dư địa còn lại, mà không phải là 0,25% hay 0,5%.
Có một điểm gì đó quen thuộc trong cách điều hành, cũng là một phần tính cách của Thống đốc Nguyễn Văn Bình, thể hiện thời gian qua: mạnh tay trong các biện pháp can thiệp, một số người trong ngành vẫn thường nói dân dã hơn là “sát ván”.
Ở đợt biến động này, nếu để ý thì dễ thấy cầu ngoại tệ thực sự không căng thẳng, mà áp lực chính là dấu hiệu kìm cung thương mại trước kỳ vọng tỷ giá lên. Chênh lệch giữa giá mua vào - bán ra của các ngân hàng vẫn tương đối bình thường, ở khoảng 50 - 60 VND. Chỉ khi khoảng cách này bị thu hẹp mới cho thấy áp lực thực sự.
Thậm chí những ngày qua, khi có biến động mạnh, một số ngân hàng cổ phần nhỏ hoặc có trạng thái ngoại tệ tốt đã doãng rộng chênh lệch giá mua bán tới 100 VND. Họ dự phòng rủi ro, bởi cung - cầu có biểu hiện mất cân đối có phần giả tạo do yếu tố găm giữ trong dân cư và doanh nghiệp.
Thực tế thì họ đúng. Sau điều chỉnh, giá mua vào trên thị trường không dâng cao quá mức như là do áp lực phải mua khi điểm nghẽn của dòng chảy đã được khơi thông.
Ngày đầu tiên sau điều chỉnh, điểm rất đáng chú ý là thị trường khá ổn định, không nhiều sóng sánh để tìm điểm cân bằng như các lần điều chỉnh trước. Điều này càng góp phần cho thấy cung - cầu không quá chông chênh trước đó.
Trở lại với “quyết định sát ván” khi điều chỉnh, xóa bỏ kỳ vọng thị trường là điểm đến của nó. Nếu tăng nhỏ giọt 0,25% hay 0,5% thì kỳ vọng tiếp tục điều chỉnh vẫn còn, sẽ vẫn lưu trữ và âm ỉ áp lực có thể dẫn đến biến động trong ngắn hạn.
Theo định hướng quãng biến động đưa ra từ đầu năm, cả năm không quá 2%, lần này đã dùng hết, kỳ vọng của thị trường trong quãng định hướng như cam kết đó của Ngân hàng Nhà nước là không còn.
Việc điều chỉnh luôn 1% cũng là một bước đi chủ động của nhà điều hành để xử lý “cao điểm kỳ vọng” trong tháng 6 tới - thời điểm mà thị trường chờ đợi ứng xử của chính sách điều hành tỷ giá gắn với khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sớm tăng lãi suất…
Nay, về số học, kỳ vọng đó cũng bị xóa bỏ khi dư địa điều chỉnh theo định hướng năm nay đã dùng hết.
Tỷ giá 2015 khó điều chỉnh thêm?
Điểm quan tâm còn lại là khi đã điều chỉnh hết 2% rồi thì từ nay đến cuối năm, đường còn dài, Ngân hàng Nhà nước sẽ ứng xử thế nào với tỷ giá và liệu nó có tăng lên nữa không?
Cho đến thời điểm này, định hướng nếu có biến động năm nay sẽ không quá 2% mà Thống đốc định hướng như một cam kết vẫn còn nguyên giá trị, chưa có bất kỳ một ý thông tin nào cho thấy sẽ thay đổi.
Với những gì đã thể hiện trong bốn năm qua, cũng như riêng về tỷ giá, cam kết hay những lời hứa của Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã được nhiều lần kiểm chứng là có sức nặng hiện thực.
Đâu đó hiện đang có quan ngại, dư địa 2% đã dùng hết rồi, mục tiêu giữ ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước năm nay rơi vào thế khó.
Tuy nhiên, chưa hẳn vậy. Dư địa còn lại thực tế trên thị trường vẫn khá lớn. Đó là tỷ giá hiện đang cách khá xa mức trần cho phép, tới khoảng 180 VND, hay qua đợt biến động này thì trường chỉ dùng một mức rất nhỏ so với 1% vừa nới thêm.
Thậm chí cũng không loại trừ tình huống tỷ giá giảm và dư địa đó càng trở nên rộng. Tình huống này đã có nhiều trong những năm gần đây, cả thực tế Ngân hàng Nhà nước phải nâng giá mua vào để chặn đà rơi.
Mặt khác, với nhà điều hành, khái niệm hay cách nói “dư địa” là mờ nhạt. Vì ở đây, với chính sách tỷ giá gắn với quãng định hướng giữ ổn định, chính Ngân hàng Nhà nước tạo ra khoảng dư địa đó, chủ động tạo ra nó.
Nó cũng chẳng phải là dư địa khi nhà điều hành đang có trong tay nhiều công cụ can thiệp khác, như lãi suất, dự trữ bắt buộc, điều tiết vốn trên thị trường mở, cùng nguồn dự trữ ngoại hối đủ sức mạnh… Đó là chưa nói đến các công cụ hành chính, điển hình như kết hối, hoàn toàn có thể tính tới trong những bối cảnh và tình huống cần thiết.
Vấn đề còn lại, nếu có căng thẳng tỷ giá từ nay đến cuối năm, Ngân hàng Nhà nước sẽ thể hiện sự quyết liệt trong can thiệp và bình ổn của mình như thế nào mà thôi. Có một điểm được đúc kết, những năm qua, các đợt biến động đều được họ can thiệp và xử lý khá nhanh, ngay cả khi chưa có biểu hiện tỷ giá chạm trần - một thể hiện cũng cho thấy một phần quyết liệt.
Và như trên, đến thời điểm này định hướng giữ ổn định tỷ giá như một cam kết mà Thống đốc đưa ra đầu năm vẫn còn nguyên giá trị, vẫn chưa có bất kỳ một ý thông tin nào cho thấy sẽ thay đổi.
Với những gì đã khẳng định trong 4 lần trước đây, nếu thị trường tiếp tục đặt niềm tin vào định hướng như một cam kết đó thì cũng có cơ sở.




Chính phủ vừa hoàn thiện bộ máy Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặt mục tiêu xây dựng một trung tâm tài chính hiện đại, minh bạch và hội nhập quốc tế, gắn với vai trò đầu tàu của TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng…
Theo khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm trực tuyến của 36 ngân hàng thương mại ngày 6/7, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 - 12 tháng phổ biến ở mức 6,2 - 7%/năm. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều ngân hàng áp dụng các chương trình ưu đãi hoặc lãi suất thỏa thuận, giúp mức lãi suất khách hàng thực nhận cao hơn từ 0,8 - 2,5 điểm phần trăm so với biểu niêm yết...
Sáng 6/7, tỷ giá USD tự do giảm 60 đồng chiều mua và 50 đồng chiều bán so với cuối tuần trước, giao dịch quanh mức 26.520 – 26.560 VND. Giá mua USD tự do cao hơn khoảng 370 VND so với mức mua cao nhất tại các ngân hàng, trong khi khoảng cách ở chiều bán chỉ còn 100 VND…
Từ ngày 1/7, các ngân hàng và tổ chức tín dụng sẽ phải cung cấp định kỳ nhiều loại thông tin tài khoản và giao dịch của người nộp thuế cho cơ quan thuế theo quy định mới. Phạm vi dữ liệu được mở rộng so với trước, bao gồm cả thông tin về số dư, dòng tiền và các giao dịch liên quan…
Tại dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Bộ Công an đã đề xuất bổ sung thêm các hành vi mới như hành vi vi phạm quy định về quản lý tài sản bảo đảm; hành vi lấn đất, hủy hoại đất hoặc sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất…
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…