Những gì liên quan đến đề án thành lập Công ty Quản lý Nợ xấu Việt Nam (VAMC) luôn được thị trường tài chính quan tâm. Trong đó, đáng quan tâm nhất là chiến lược và cách thức hoạt động của VAMC. Vấn đề này đến nay vẫn còn nằm trên bàn dự thả và đang gây nhiều tranh cãi.
Tuy nhiên, nếu xét kỹ, quy trình sơ bộ VAMC vạch ra lại có phần giống với KAMCO, công ty quản lý tài sản của Hàn Quốc. KAMCO ra đời năm 1962 nhằm quản lý các khoản nợ xấu của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc. Đến tháng 11/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định mở rộng chức năng và sử dụng KAMCO như một công cụ xử lý các khoản nợ xấu chung cho cả hệ thống.
Một quỹ dưới quyền KAMCO ra đời với nhiệm vụ mua lại các khoản nợ xấu từ hệ thống tài chính và được phát hành trái phiếu dưới sự bảo lãnh của Chính phủ. Quy mô của quỹ này ban đầu là 1.500 tỉ won (tương đương 1,34 tỉ USD tính theo tỉ giá hiện tại), sau đó nhiều lần được tăng lên trong suốt giai đoạn khủng hoảng châu Á.
Mùa thu 1997, bảng cân đối tài sản của các tổ chức tài chính Hàn Quốc xấu đi một cách nghiêm trọng. 14/26 ngân hàng thương mại có tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 8%. Có 2 ngân hàng phá sản về mặt kỹ thuật (có vốn chủ sở hữu âm). 28/30 ngân hàng đầu tư của Hàn Quốc cũng lâm vào tình trạng này.
Khi nhập cuộc, KAMCO đã chia các khoản nợ ra thành 4 loại: các khoản vay thông thường, các khoản vay đặc biệt (đang chờ xử lý nợ từ tòa án), các khoản vay Daewoo (liên quan đến Tập đoàn Daewoo) và khoản nợ nằm ngoài xử lý của tòa án. KAMCO đã mua lại với mức giá gần 18% so với giá trị thị trường đối với các khoản nợ có tài sản thế chấp, nhưng đối với khoản nợ không thế chấp thì chỉ 5,8%.
Ban đầu, KAMCO không thể xác định đúng mức giá mua. Nếu như trước tháng 7/1998, KAMCO trả tới 70-75% giá trị tài sản đảm bảo thì sau đó, con số này giảm xuống còn 45% trong công thức tính giá mua.
Phần lớn nợ của KAMCO mua lại xuất phát từ ngân hàng, tương ứng với 62,1% lượng tiền công ty này bỏ ra từ tháng 11/1997 đến tháng 11/2002. Tuy nhiên, giá trị mua lại nợ của ngân hàng cũng khá cao, trung bình 40% giá thị trường.
Để mua các khoản nợ này, KAMCO đã trả cho người bán trái phiếu được Chính phủ đảm bảo với kỳ hạn 5 năm. Trái phiếu này được niêm yết và giao dịch trên sàn chứng khoán Hàn Quốc với lãi suất thả nổi và trả theo từng quý. Nhưng yếu tố then chốt giúp KAMCO thành công, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), là tổ chức này đã tạo lập được một thị trường mua bán nợ. KAMCO đã sử dụng nhiều cách thức để thanh lý nợ như bán cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức đấu giá công khai, mời chào hợp tác, thậm chí là tự mình đi thu hồi nợ.
Kết quả mang lại khá mỹ mãn. Tỉ lệ phục hồi trung bình (tức giá trị thanh lý của KAMCO chia cho giá trị thị trường của các khoản nợ) lên đến 46,8% trong giai đoạn 1997-2002. Nghĩa là KAMCO xem như đã thu hồi được gần một nửa giá trị các khoản nợ xấu của hệ thống. Tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng cũng giảm từ mức 16,8% (tháng 3.1998) xuống còn 2,3% (tháng 12/2002). Còn nếu tính chung cho cả hệ thống tài chính, tỉ lệ này đã giảm từ mức 17,7% xuống còn 3,9%.
Hàn Quốc có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Chẳng hạn, cả hai có chung chiến lược tăng trưởng dựa trên các tập đoàn. Tín dụng theo hình thức chỉ định, phân phối chủ yếu cho những tập đoàn chủ lực và được cung cấp từ hệ thống ngân hàng do Chính phủ chi phối.
Mặc dù có một số điểm tương đồng về cơ bản, nhưng hoạt động của VAMC và KAMCO có một điểm khác biệt quan trọng. Đó là nguồn tiền để thực hiện việc mua lại nợ xấu.
Chính phủ Hàn Quốc đã chấp nhận bù lỗ cho KAMCO bằng tiền ngân sách. Còn ở Việt Nam, Tiến sĩ Võ Trí Thành cho biết, theo đề án thành lập VAMC, nguyên tắc của việc xử lý nợ là sẽ không sử dụng tiền ngân sách.
Về điều này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng đó là do những người soạn thảo đề án đang chịu một sức ép: không sử dụng tiền thuế của dân để hạn chế vấn đề lợi ích nhóm. Một nguyên nhân khác, theo ông Thành, có thể là do ngân sách nhà nước không đủ.
Vậy tiền sẽ đến từ đâu? Từ tổ chức đầu tư trong nước, bên ngoài, hay tổ chức quốc tế? Trên thực tế, ngay cả Hàn Quốc cũng buộc phải nhận tiền hỗ trợ từ IMF. Thái Lan và Indonesia cũng vậy.
Nhưng điều kiện vĩ mô Hàn Quốc lúc bấy giờ và Việt Nam hiện tại có quá nhiều khác biệt. Và có vẻ như Ngân hàng Nhà nước đang sử dụng cách thức “lấy mỡ nó rán nó” để xử lý các khoản nợ xấu của ngân hàng. Nghĩa là các ngân hàng vẫn tự quản lý nợ của mình, còn VAMC sẽ tài trợ thêm tiền để ngân hàng thực hiện. Số tiền này phải được trả lại cho VAMC trong 5 năm. Điều này khiến một số người nghi ngờ tính hiệu quả của VAMC, khi các công ty quản lý nợ xấu trên thế giới đều mua đứt bán đoạn các khoản nợ.
Ngược lại, trong trường hợp Chính phủ Việt Nam có đủ tiền, bài toán cần giải là những công thức tính giá mua bán lẫn cách thức phân loại nợ xấu nào sẽ mua.
Dù sao đi nữa, con đường thành lập VAMC là đúng vì các quốc gia trên thế giới đều đã thực hiện. Và điều kiện để VAMC hoạt động là Chính phủ phải tạo được niềm tin cho công chúng.
Để tạo lập niềm tin, điều trước tiên là làm rõ con số nợ xấu thực sự. “Đó cũng là yếu tố đầu vào quan trọng trong tiến trình xử lý nợ xấu”, ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách công Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhận xét.
(Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư)




Khi vốn và công nghệ chỉ tạo ưu thế ngắn hạn, văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực nội sinh quyết định sức mạnh dài hạn. Đặt văn hóa làm trung tâm mọi quyết định, chuyển hóa giá trị thành hành vi ứng xử thường ngày sẽ kiến tạo năng lực cạnh tranh cốt lõi để phát triển bền vững...
Với sự hiện diện ngày càng nhiều các tập đoàn công nghệ và sản xuất toàn cầu tại Bắc Ninh, câu chuyện đặt ra không đơn thuần là Bắc Ninh có bao nhiêu căn hộ có thể bán, hoặc cho người nước ngoài thuê mà là địa phương cần tạo dựng môi trường sống như thế nào để tương xứng với quy mô và chất lượng của dòng vốn FDI thế hệ mới…
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2026 phát hành ngày 12/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
AI đang tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu, biến thương hiệu từ một công cụ truyền thông thuần túy trở thành tài sản chiến lược cốt lõi. Để thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp và chinh phục thị trường trong thời đại AI, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chuyển đổi tư duy, lấy dữ liệu và công nghệ làm bệ phóng tăng trưởng...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.