
Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), tổng nhu cầu vốn xây dựng hạ tầng cơ sở đô thị ở Việt Nam đến năm 2010 là 17,3 tỉ USD, đến năm 2020 là 46,1 tỉ USD.
Trong khi đó, thu ngân sách của các đô thị rất hạn hẹp. Điều này cho thấy nhu cầu vốn đầu tư phát triển đang là vấn đề bức xúc của hầu hết các đô thị trong cả nước.
Manh mún
Theo TS. Đỗ Tú Lan, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng), đến nay, hầu như các đô thị chưa đáp ứng về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với yêu cầu thực tế đặt ra.
Việc đầu tư còn manh mún, thiếu kiểm soát, bị động về nguồn lực phát triển, sự điều tiết của cơ chế thị trường trong xu thế cạnh tranh cao, năng lực quản lý và huy động tài chính cho phát triển đô thị còn kém.
Hầu hết các đô thị trong cả nước đã được lập quy hoạch chung và phần lớn các khu vực phát triển tập trung đều có quy hoạch chi tiết. Tuy nhiên khoảng cách của đồ án quy hoạch và các dự án đầu tư theo quy hoạch còn rất xa. Từ quy hoạch đô thị đến các dự án đầu tư xây dựng cải tạo và phát triển đô thị rất cần có một kế hoạch hành động cụ thể xác định nhu cầu phát triển và các nguồn lực khả thi cho đô thị.
Thế nhưng, bước chuyển tiếp này chưa được thể chế hóa hoặc chưa được nghiên cứu đầy đủ trong quá trình phát triển đô thị để hỗ trợ các nhà quản lý đô thị. Các cấp chính quyền địa phương được giao quyền phê duyệt nội dung đồ án quy hoạch với những ý tưởng rất hay, song nguồn lực đầu tư ở đâu lại chưa xác định được.
Nguồn thu từ đất
Theo ông Nguyễn Ngọc Tuyến, Phó viện trưởng Viện Tài chính, một trong những giải pháp quan trọng huy động nguồn tài chính cho phát triển đô thị là các khoản thu liên quan tới đất.
Trong những năm qua, do có nhiều thay đổi về chính sách đối với đất, nhất là giá đất đô thị tăng nhanh nên số thu về nhà, đất cũng tăng nhanh. PGS.TS Lê Quốc Lý, Vụ trưởng Vụ Tài chính tiền tệ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cho biết: nguồn thu từ đất của cả nước hiện trên 20.000 tỷ đồng/năm.
Nhiều nơi, các khoản thu về đất đai đã chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng thu ngân sách đô thị, trong đó thu tiền sử dụng đất chiếm khoảng 80% về tổng thu nhà đất.
Tuy nhiên, để tiếp cận và khai thác tốt nguồn thu tiền sử dụng đất này, chính quyền đô thị cũng cần phải làm tốt công tác quy hoạch, quản lý chặt chẽ về đất, giá đất và các quy trình, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Để đáp ứng các mục tiêu mà Việt Nam đã đặt ra đối với phát triển hạ tầng đô thị từ các năm 2006-2020, ước tính chưa đầy đủ của WB cho thấy vốn đầu tư vào hạ tầng cơ sở đô thị chiếm khoảng 15-20% tổng GDP của Việt Nam, chưa kể các hạ tầng liên tỉnh lớn của quốc gia.
Đây là những khoản đầu tư rất lớn, đòi hỏi phải huy động từ nhiều nguồn ngoài ngân sách Nhà nước và cần có những chính sách, cơ chế riêng tạo nguồn tài chính cho xây dựng, phát triển đô thị.
Trong đó, cần cho phép đô thị được xây dựng quỹ đầu tư phát triển đô thị, bao gồm các nguồn thu từ đô thị như: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thu từ các dịch vụ phục vụ cho tái đầu tư hạ tầng, đóng góp của nhân dân... để hỗ trợ cho việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật đô thị; tạo môi trường khuyến khích phù hợp để thu hút tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng; đấu giá quỹ đất hai bên đường để đầu tư xây dựng đường, hạ tầng kỹ thuật đi kèm và trong nhiều trường hợp có thể dùng kinh phí dôi ra để đầu tư xây dựng hệ thống các công trình phúc lợi công cộng; tạo nguồn vốn đầu tư thông qua phát hành trái phiếu phát triển đô thị...
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.