
Theo số liệu thống kê từ Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), lượng thép tiêu thụ trong tháng 2 chỉ đạt 360 nghìn tấn, tăng khoảng 130 nghìn tấn so với tháng 1, nhưng vẫn ở mức thấp so với mức bình quân 400 - 420 nghìn tấn/tháng trước đây.
Hiện nay, lượng thép tồn kho khoảng 350 nghìn tấn, chưa kể 560 nghìn tấn phôi thép chuẩn bị sản xuất cho tháng tới. VSA cũng dự báo, trong bối cảnh các dự án bất động sản, các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng có vốn đầu tư của Nhà nước vẫn được kiểm soát chặt thì trong các tháng tới nhu cầu thép trong nước vẫn sẽ ở mức thấp.
Trong cuộc họp bàn về tình hình sản xuất, kinh doanh năm 2012 diễn ra mới đây giữa VSA và một số doanh nghiệp sản xuất thép lớn, có ý kiến cho rằng, với những khó khăn của thị trường tiêu thụ và các chính sách kinh tế thắt chặt thì mức tăng trưởng toàn ngành dự kiến 4% cho năm 2012 là khó thực hiện, nên đề nghị hạ chỉ tiêu xuống thấp hơn. Nguyên nhân là do lượng tiêu thụ thép toàn ngành liên tục “đi giật lùi” từ mức 11,7 triệu tấn năm 2009, xuống còn 11 triệu tấn năm 2010 và đến năm 2011 chỉ còn 9,9 triệu tấn.
Tuy nhiên, theo VSA cho dù trong những tháng đầu năm 2012, tình hình tiêu thụ thép tiếp tục gặp khó khăn nhưng dự báo những tháng cuối năm sẽ tăng trưởng trở lại. Giải thích điều này, VSA cho rằng, các doanh nghiệp thép vẫn đang kỳ vọng vào mức tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) mà Chính phủ đặt ra trong năm 2012 là khoảng 6% thì sẽ có cơ hội cho các dự án đầu tư hiệu quả, kéo theo việc tiêu thụ các loại hàng hóa thiết yếu, trong đó có ngành thép.
Hơn nữa, lượng tiêu thụ thép năm 2011 giảm 10% nhưng lượng sản xuất toàn ngành cùng thời điểm chỉ giảm 1% chứng tỏ lượng hàng thép mà các doanh nghiệp sản xuất ra vẫn ổn định. Sự suy giảm chỉ tập trung vào nhóm các mặt hàng thép nhập khẩu là chủ yếu. Do vậy, việc duy trì mức tăng trưởng toàn ngành khoảng 4% là vẫn khả thi.
Theo dự tính, trong năm 2012 ngành thép đặt kế hoạch sản xuất khoảng 9,8 triệu tấn, tăng 4% so với năm 2011. Song theo nhận định của nhiều doanh nghiệp thép, với tình hình ảm đạm như hiện nay thì năm nay lượng tiêu thụ thép thậm chí còn giảm từ 5 - 7% so với năm ngoái.
Khó khăn của ngành thép vẫn còn tiếp tục kéo dài ít nhất thêm 6 tháng nữa, thậm chí có thể đến hết năm 2012. Hiện nay, mức lãi suất cho vay ở mức 17 - 18% vẫn là quá cao, đặt nhiều doanh nghiệp vào tình cảnh khó khăn.
Một thách thức khác mà ngành thép đang phải đối mặt là sự không công bằng giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Về vấn đề này, Tổng giám đốc Công ty thép Việt (Pomina) Đỗ Duy Thái cho biết, các doanh nghiệp nước ngoài không phải đóng thuế, trong khi đó các doanh nghiệp trong nước lại phải đóng thuế hàng trăm tỷ đồng mỗi năm.
Bởi vậy, ông Thái đề nghị VSA kiến nghị với Chính phủ nên tạo sự công bằng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, đặc biệt về vấn đề thuế. Đồng thời cần có những biện pháp khuyến khích doanh nghiệp nội địa phát triển.
Đối với những dự án FDI đã được cấp phép nhưng không thực hiện hoặc triển khai chậm thì cần ngưng lại, bởi những dự án này đã phần nào lấy đi cơ hội sử dụng đất, cảng biển... khiến cho cơ hội của các doanh nghiệp nội bị thu hẹp hơn, trong khi nhu cầu mở rộng đầu tư thực tế của các doanh nghiệp nội còn rất lớn.
Về phía Tổng công ty thép Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Mai Văn Tinh kiến nghị, nên hạn chế nhập khẩu để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm nội địa. Cần có một số chính sách tháo gỡ nếu khó khăn còn kéo dài hết năm 2012, đồng thời kiến nghị Chính phủ xem xét biện pháp hạn chế nhập khẩu bằng hàng rào kỹ thuật.
Trong bối cảnh này, song song với các giải pháp từ cơ chế, chính sách, thì nhiều doanh nghiệp trong ngành thép đều xác định một trong những giải pháp hiệu quả là các doanh nghiệp cần phải quyết liệt làm ngay là giảm chi phí tài chính, sản xuất, kinh doanh. Từ đó mới có thể hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy cạnh tranh và đạt tăng trưởng.
Đặc biệt, vấn đề sống còn của ngành thép trong năm 2012 là phải nâng cao “sức khỏe” cho các doanh nghiệp, trong đó sẽ đầu tư mạnh cho công nghệ, chứ không phải là sản xuất bằng mọi giá.
TP.Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh giám sát các mối nguy ngay trong quá trình lưu thông, kinh doanh thực phẩm trên thị trường, thay vì chờ phát hiện vi phạm hay xử lý khi xảy ra ngộ độc thực phẩm. Từ lấy mẫu kiểm nghiệm, cảnh báo sớm đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm, Thành phố hướng tới xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm chủ động hơn, kiểm soát rủi ro ngay từ các mắt xích của chuỗi cung ứng.
Trước những diễn biến của thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước kỳ điều hành ngày 25/6 được điều chỉnh giảm mạnh. Cụ thể, xăng E5RON92 giảm 767 đồng/lít, xăng E10RON95-III giảm 837 đồng/lít. Tương tự, các mặt hàng dầu cũng có mức giảm từ 1.650 đồng - 1.668 đồng/lít…
TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đưa khu vực dịch vụ đóng góp 60 - 65% GRDP vào năm 2030 và nâng lên 70 - 75% vào năm 2040. Đồng thời, triển khai mô hình liên kết “5+1”, lấy Trung tâm Tài chính quốc tế làm hạt nhân để xây dựng hệ sinh thái dịch vụ hiện đại, hướng tới vị thế trung tâm dịch vụ hàng đầu Đông Nam Á…
Khối hộ tiêu thụ dân cư vẫn còn nhiều bất cập về nhận thức. Họ nghĩ: "Tôi có tiền, tôi trả được thì tại sao không được dùng nhiều?", dẫn đến việc lãng phí vô tội vạ mà không hiểu rằng khi tiêu thụ vượt ngưỡng, hệ thống phải huy động các nguồn điện rất đắt đỏ, gây áp lực chi phí đầu tư khổng lồ cho xã hội…
Trong kỳ điều hành ngày 18/6, liên Bộ Công Thương - Tài chính lần đầu tiên công bố giá cơ sở cho mặt hàng xăng sinh học E10RON95-III, thay thế hoàn toàn xăng khoáng RON95-III truyền thống. Cùng với đó, giá các mặt hàng xăng dầu đồng loạt giảm mạnh nhờ tác động kép từ giá thế giới và các chính sách thuế ưu đãi…
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.