Theo Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương), Việt Nam tuy có tăng trưởng kinh tế ấn tượng (năm 2024 GDP đạt 476,3 tỷ USD, tăng trưởng 7.09%, lớn thứ 34 thế giới), nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào các ngành công nghiệp nặng và gia công, vốn có mức phát thải carbon cao.
Với các cam kết toàn cầu, việc thực hiện các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) đang ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững.
KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP TRONG THỰC HÀNH ESG TẠI VIỆT NAM
Tại Tọa đàm về "Dịch vụ Dữ liệu ESG của bên thứ ba" do IFC phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức ngày 21/10, ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược đã chỉ ra ba động lực chính thúc đẩy ESG tại Việt Nam bao gồm nhà đầu tư, người lao động và khách hàng.
Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ trong việc thúc đẩy các mục tiêu về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) trên bình diện toàn cầu. Đáng chú ý, nước ta đã cam kết hợp tác nhằm giảm ít nhất 30% lượng khí thải methane toàn cầu so với năm 2020, với trọng tâm tập trung vào các lĩnh vực năng lượng, quản lý chất thải và nông nghiệp.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, đồng thời tiến tới loại bỏ dần nhiệt điện than vào năm 2040; Giảm phát thải khí nhà kính.
Tuy nhiên, ông Cương cũng cho biết nhận thức về ESG của các doanh nghiệp Việt Nam đang được cải thiện nhưng chưa đồng đều. Theo Khảo sát 1.019 doanh nghiệp của Cục Phát triển Doanh nghiệp Tư nhân và Kinh tế Tập thể (APED), Bộ Tài chính năm 2024, 39% chưa từng nghe nói đến ESG và 62% hiện chưa nắm rõ các quy định và chính sách của Việt Nam liên quan đến ESG.
Theo thống kê của Quỹ Dynam Capital đang hoạt động tại Việt Nam, trong hơn 1.650 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường, Quỹ chỉ theo dõi khoảng 25 công ty có cam kết ESG rõ ràng.
Các tổ chức thuộc lĩnh vực Tài chính ngân hàng và Bất động sản, đang dẫn đầu trong việc xây dựng chiến lược và triển khai kế hoạch thực hiện ESG. Cụ thể, 19% doanh nghiệp trong nhóm lĩnh vực này đã có kế hoạch và đang thực hành các nguyên tắc ESG, vượt trội so với nhóm xếp sau là Giao thông vận tải với 7% doanh nghiệp cho biết đang thực hành ESG.
Bên cạnh đó, những hạn chế về tài chính cũng cản trở đáng kể việc triển khai ESG cho các doanh nghiệp.
Theo ông Cương, các doanh nghiệp niêm yết công khai phải đánh giá và công bố báo cáo ESG hàng năm để tuân thủ các quy định. Các chương trình ESG hiệu quả cũng phải liên tục theo dõi và đánh giá các chỉ số hiệu suất, đòi hỏi nguồn lực tài chính và khả năng công nghệ mà nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu. Do đó, chỉ một số ít doanh nghiệp Việt Nam có quy mô lớn và các công ty niêm yết công khai có thể triển khai đầy đủ các chiến lược ESG toàn diện.
Ngoài ra, ông cũng chỉ ra sự hạn chế trong cơ cấu quản trị công ty. "Hiện nay, có đến 4 thế hệ tham gia vào lực lượng lao động, việc quản lý nhân sự đa thế hệ trở thành một thách thức mà các nhà tuyển dụng và lãnh đạo phải đối mặt," ông Cương chia sẻ. "Đó không chỉ là việc tuyển dụng được nhân sự có kỹ năng, mà còn là làm sao để giữ chân được người lao động."
Theo góc nhìn từ nhà đầu tư, việc luôn thận trọng và e ngại khi đầu tư vào thị trường Việt Nam xuất phát từ việc còn nhiều vướng mắc về ESG, dữ liệu và độ tin cậy. Theo ông Cương, một trong những thách thức khiến các doanh nghiệp chưa triển khai ESG cũng xuất phát từ việc thiếu quy định sự minh bạch, đạo đức và trách nhiệm kinh doanh.
KHUYẾN NGHỊ THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP THỰC THI ESG MẠNH MẼ HƠN
Việt Nam đang thúc đẩy ESG qua chính sách xanh hóa nền kinh tế, phát triển năng lượng tái tạo, và yêu cầu doanh nghiệp báo cáo bền vững. Chính phủ cũng đã ban hành các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
"Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 đặt ra nhiều vấn đề vẫn còn nguyên giá trị đến hiện nay, nhiều vấn đề ở giai đoạn đầu đã đạt được sự tiến bộ, tạo tiền đề cho Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030," ông Cương nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Luật bảo vệ môi trường đưa ra khái niệm về kinh tế tuần hoàn, nhiều nội dung được triển khai thúc đẩy ESG. Bộ tứ Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng tạo nền tảng chiến lược, định hướng rõ ràng để Việt Nam lồng ghép và thúc đẩy ESG trong toàn bộ nền kinh tế.
Tuy nhiên, trước những thách thức, tồn tại, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược đã đưa ra các khuyến nghị để thúc đẩy doanh nghiệp thực thi ESG mạnh mẽ hơn nữa.
Theo ông, hiện nay có ba vấn đề chính mà các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Thứ nhất, cần các văn bản cụ thể hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hành ESG. Thứ hai, doanh nghiệp được tiếp cận đến các khoản vay xanh từ Chính phủ hoặc tổ chức tài chính. Thứ ba, được giảm hay miễn thuế cho các doanh nghiệp cam kết thực hành ESG với những mục tiêu cụ thể.
Để thúc đẩy hiệu quả các hoạt động liên quan đến ESG, quy trình cần được thực hiện theo các bước cụ thể: Đánh giá nhận thức và hiện trạng ESG; Xác định mục tiêu ESG mong muốn; Xác định khoảng trống giữa mong muốn và hiện tại; Lập kế hoạch và triển khai lấp khoảng trống;
Cùng với đó cần đào tạo nhân lực, cung cấp tri thức, xây dựng niềm tin; Đánh giá và điều chỉnh; Cần đầu tư mạnh vào giáo dục, năng lượng tái tạo và hạ tầng cho lực lượng lao động, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa; Kết hợp các cấp, các ngành, người dân, doanh nghiệp, cộng đồng quốc tế.
"Chính sách của Việt Nam cần tiếp thu tiêu chuẩn của thế giới, học hỏi kinh nghiệm tốt nhất của quốc tế nhưng kinh nghiệm ấy cũng cần phải xem xét để phù hợp khi ứng dụng tại Việt Nam," ông Cương chia sẻ.
Trong khi đó, ông Jinchang Lai - Chuyên gia trưởng, Trưởng nhóm Phát triển cơ sở hạ tầng tài chính khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Nhóm Tư vấn các định chế tài chính (IFC), cho biết tại Việt Nam, IFC đang nỗ lực thúc đẩy sự sẵn có của các dịch vụ phân tích và dữ liệu ESG để tăng cường tài chính bền vững. "Sáng kiến của IFC phù hợp với các mục tiêu chính sách rộng hơn của Việt Nam khi Chính phủ đã cam kết lượng phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và đưa các nguyên tắc bền vững vào chiến lược phát triển quốc gia," ông nhấn mạnh. "Lĩnh vực tài chính ngày càng ủng hộ tài chính xanh, tài chính khí hậu và cho vay liên kết bền vững. Tuy nhiên, độ tin cậy của dữ liệu vẫn là một nút thắt chính."
Tại Hội nghị, các chuyên gia cũng đồng ý rằng con đường phía trước của Việt Nam phải bao gồm việc phát triển một hệ sinh thái dữ liệu ESG mạnh mẽ, bao gồm các cơ quan xác minh trong nước, các công ty xếp hạng tín nhiệm và các công ty phân tích, để đảm bảo tính toàn vẹn và minh bạch của dữ liệu.
Nguồn vốn này sẽ hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam chuyển dịch từ mô hình phát điện phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch phát thải cao sang nền kinh tế dựa trên năng lượng tái tạo...
Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam (cập nhật năm 2025) vừa công bố đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điểm đáng chú ý, kịch bản đã bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu với một số ngành/lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam như sản xuất lúa; sức khỏe cộng đồng; đô thị và công trình…
Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn cho các địa phương ven biển, đặc biệt là tại tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Tuy nhiên, thay vì đến khi thiên tai xảy ra mới ứng phó, người dân nơi đây đã chủ động chuẩn bị trước, giảm thiểu thiệt hại và tìm kiếm những giải pháp bền vững hơn...
Chính phủ Hàn Quốc đặt mục tiêu đạt công suất năng lượng tái tạo 100 GW vào năm 2030 và hướng tới việc xe điện cùng xe chạy bằng hydro chiếm hơn 70% doanh số bán xe mới vào năm 2035...
Mực nước biển dâng và xâm nhập mặn đang đe dọa sinh kế, văn hóa và sự tồn tại của nhiều quốc đảo Thái Bình Dương, thúc đẩy các nhà lãnh đạo khu vực kêu gọi thế giới khẩn cấp cắt giảm phát thải và tăng hỗ trợ tài chính khí hậu…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.