Nợ xấu của các tổ chức tín dụng tăng nhanh có nguyên nhân chủ quan từ năng lực thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước trong một thời gian dài còn hạn chế, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình lý giải.
Ở một tài liệu phục vụ phiên
chất vấn tại phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ diễn ra vào chiều mai (21/8),
người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước đánh giá, từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng nhanh.
Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là 54,6 ngàn tỷ đồng, chiếm 3,96% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước. Nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 41 ngàn tỷ đồng, chiếm 4,54% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, ông Bình cho biết.
Còn theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 202.099 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là 125,8 ngàn tỷ đồng, chiếm 10,37% dư nợ cấp tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 60,9 ngàn tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.
Thống đốc Bình lý giải, nguyên nhân số liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước cao hơn so với báo cáo của các tổ chức tín dụng là do: Ngân hàng Nhà nước thực hiện chuyển nhóm nợ theo đúng quy định hiện hành trong khi một số tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu trong báo cáo tài chính thấp hơn thực tế để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro.
Các tiêu chí phân loại nợ theo quy định hiện hành có bao gồm tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng do năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng không đồng đều, nên việc sử dụng các tiêu chí định tính trong phân loại nợ có thể dẫn đến sự khác nhau về nhóm nợ khi xác định và ghi nhận nợ xấu của tổ chức tín dụng.
Nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến nợ xấu của các tổ chức tín dụng tăng nhanh trong thời gian cũng được ông Bình diễn giải cụ thể.
Đưa con số trong giai đoạn 2008 - 2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân là 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân ở mức 51%, Thống đốc lý giải nguyên nhân từ cuối năm 2008, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên môi trường kinh doanh trong nước gặp rất nhiều khó khăn. Những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã làm cho chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, tổng cầu của nền kinh tế giảm mạnh, tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho lớn, thị trường bất động sản đóng băng, năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm sút... làm cho tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng năm 2011 chậm lại đáng kể và trong 7 tháng đầu năm 2012 chỉ tăng 1,02% nhưng nợ xấu tăng tới 45,5%.
Ở nguyên nhân chủ quan, theo Thống đốc Bình, công tác quản trị, điều hành hoạt động tín dụng của một số tổ chức tín dụng còn bất cập. Như việc thẩm định, quyết định cho vay, kiểm tra sử dụng vốn vay, giám sát tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng chưa tuân thủ đúng quy định. Công tác phân tích, đánh giá, phân loại khách hàng, lĩnh vực kinh doanh chưa sát với thị trường để có biện pháp ứng xử kịp thời. Việc đánh giá tài sản đảm bảo cao hơn giá trị thực tế, nhận tài sản đảm bảo không đầy đủ tính pháp lý, có tranh chấp dẫn tới tình trạng khó xử lý, phát mại hoặc phát mại được thì giá trị thu hồi thấp. Một số tổ chức tín dụng áp dụng chiến lược tăng trưởng tín dụng nhanh trong khi năng lực quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế và chậm được cải thiện, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị dẫn đến nợ xấu tăng nhanh hơn dư nợ tín dụng...
Nguyên nhân tiếp theo được nhìn nhận là trong những năm gần đây, các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng cổ phần liên tục tăng vốn điều lệ dẫn đến sức ép tăng trưởng tín dụng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Nhiều tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm quá cao (trên 50%), trong khi khả năng về quản trị rủi ro, giám sát vốn vay còn bất cập.
Bên cạnh đó, năng lực thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước trong một thời gian dài còn hạn chế, chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm và rủi ro trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng, nhất là các vi phạm quy định về hạn chế cấp tín dụng và việc đầu tư quá mức vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ, quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) trong năm 2026, gắn với phát triển ngành thủy sản bền vững...
Chiều 13/10, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã tổ chức Hội nghị sơ kết và ký kết Quy chế phối hợp công tác với các tỉnh Gia Lai, Khánh Hòa, Đắk Lắk. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường phối hợp, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực công tại ba tỉnh miền Trung Tây Nguyên.
Ngày 13/10 tại Hà Nội, Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lào và Campuchia, nhấn mạnh vai trò trụ cột của hợp tác quốc phòng - an ninh trong quan hệ song phương, đồng thời đề nghị thúc đẩy hợp tác thực chất, kết nối hạ tầng biên giới, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghiệp quốc phòng.
Chiều 13/10, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã kiểm tra thực địa hai dự án hạ tầng trọng điểm của TP.HCM, gồm dự án Giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu – giai đoạn 1 và dự án xây dựng hạ tầng, cải tạo môi trường Kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.