Vì sao nhiều nghiên cứu công nghệ sinh học chưa thể ra thị trường?
Bảo Bình
16/10/2026
Để vượt khoảng trống “thung lũng chết” giữa kết quả nghiên cứu biotech và thị trường, nhà khoa học phải bước qua chiếc "cầu vàng" đòi hỏi nhiều nguồn lực, từ vốn, mô hình khởi nghiệp, trang thiết bị, mặt bằng sản xuất đến năng lực tư vấn chuyên sâu và đăng kí sở hữu trí tuệ…
Tại Hội thảo chuyên đề: “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (Bộ KH&CN) tổ chức ngày 15/10, TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Cty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex, đã chia sẻ câu chuyện kinh tế và rủi ro khi triển khai thương mại hóa công nghệ Sinh học.
ĐƯA NGHIÊN CỨU BIOTECH RA THỊ TRƯỜNG: HÀNH TRÌNH GIAN NAN VÀ TỐN KÉM
Từ góc độ doanh nghiệp, TS. Nguyễn Lê Thu Hà cho biết đưa một nghiên cứu công nghệ sinh học từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một hành trình gian nan và tốn kém. “Trong lĩnh vực dược phẩm và chế phẩm sinh học, rủi ro có tính chất nhị phân rất cao: số liệu thực tế giai đoạn 2011–2020 cho thấy trung bình chưa đầy 8 trên 100 ứng viên (khoảng 7,9%) đi từ thử nghiệm lâm sàng Phase I đạt được phê duyệt lưu hành. Bên cạnh đó, thời gian để một phát minh phát triển thành sản phẩm có doanh thu có thể kéo dài từ 8-12 năm”, TS. Nguyễn Lê Thu Hà cho biết.
Để giảm áp lực tài chính trong thời gian phát triển công nghệ lõi, TS. Hà đề xuất chiến lược “bắt cá dọc đường”, tức tạo nguồn thu từ các sản phẩm, dịch vụ có chu kỳ thương mại hóa ngắn hơn. Doanh nghiệp cũng có thể tìm kiếm tài trợ nghiên cứu và các nguồn vốn không làm pha loãng cổ phần.
Tuy nhiên, doanh thu từ các sản phẩm ngắn hạn không thay thế được yêu cầu đầu tư dài hạn cho công nghệ lõi. Bà cho biết giá trị của chiến lược này nằm ở khả năng giúp doanh nghiệp có thêm dòng tiền, hiểu rõ nhu cầu khách hàng và giảm sự phụ thuộc vào các vòng gọi vốn liên tục. Điều đó cũng giúp nhà sáng lập hạn chế tình trạng tỷ lệ sở hữu bị pha loãng quá nhiều sau mỗi vòng huy động vốn.
Một vấn đề đáng chú ý khác là công tác soát xét trước đầu tư. Theo TS. Hà, nhà đầu tư cần kiểm tra kỹ bốn nhóm vấn đề: quyền sở hữu trí tuệ, chất lượng dữ liệu nghiên cứu, tình hình tài chính và khả năng đáp ứng yêu cầu pháp lý. Công nghệ có thể gặp trở ngại nếu quyền sở hữu sáng chế giữa nhà phát minh, viện nghiên cứu và doanh nghiệp chưa được xác lập rõ ràng, hoặc chưa đánh giá đầy đủ nguy cơ xung đột với quyền sở hữu trí tuệ của bên khác.
Bên cạnh vốn, thủ tục cấp phép và quyền sở hữu trí tuệ là những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch kinh doanh. Phân tích bối cảnh tại Việt Nam, TS. Thu Hà đánh giá cao những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi (Luật 131/2025/QH15) và Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi (Luật 115/2025/QH15) có hiệu lực từ ngày 01/04/2026, giúp mở đường cho mô hình spin-off và tài sản hóa IP. Tuy nhiên TS. Hà lưu ý doanh nghiệp cần tính đến khoảng thời gian thực tế để hoàn tất thủ tục, thay vì chỉ dựa vào tiến độ kỳ vọng. Theo số liệu bà nêu, quá trình cấp phép một số sản phẩm sinh học có thể kéo dài 24-36 tháng, lâu hơn đáng kể so với kế hoạch ban đầu của doanh nghiệp.
Theo hướng tiếp cận của TS. Hà, thương mại hóa công nghệ sinh học không đơn thuần là đưa một phát minh ra thị trường, mà là quá trình cân đối giữa tiềm năng khoa học, khả năng tạo doanh thu và mức độ chấp nhận rủi ro. Để các nghiên cứu trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần thống nhất từ đầu về mục tiêu phát triển, nguồn lực tài chính và cách chia sẻ lợi ích.
XUNG ĐỘT VỀ TƯ DUY VÀ ĐỘNG LỰC GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NHÀ KHOA HỌC
Theo ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH&CN Việt Nam (VASTI), tiến trình mức độ sẵn sàng của công nghệ gồm 9 cấp độ.
Cấp độ 1 - 3: Nghiên cứu cơ bản, đây là thế mạnh lớn của Viện Hàn lâm và các viện, trường.
Cấp độ 4 - 6: Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và mô hình bán công nghiệp.
Cấp độ 7 - 9: Thương mại hóa, đưa sản phẩm vào sản xuất công nghiệp và tiến ra thị trường.
Giữa kết quả nghiên cứu khoa học và thị trường tồn tại một khoảng trống khổng lồ, thường được gọi là “Thung lũng chết” (nằm ở khoảng giữa cấp độ 3 và 6). Để đi qua thung lũng này, nhà khoa học phải bước qua một chiếc "cầu vàng" đòi hỏi rất nhiều nguồn lực: từ vốn đầu tư, mô hình khởi nghiệp (startup), trang thiết bị, mặt bằng sản xuất, năng lực tư vấn chuyên sâu cho đến việc đăng kí bảo hộ sở hữu trí tuệ (IP).
ThS. Lê Thị Khánh Vân cho rằng chỉ khi vượt qua được cấp độ 6 - 7, sản phẩm mới hoàn thành giai đoạn thử nghiệm để chuyển sang sản xuất công nghiệp (cấp độ 7 - 8) và chính thức tiếp cận người tiêu dùng (cấp độ 9). Chính vì khoảng cách quá đắt đỏ và gập ghềnh này, khoảng 90% kết quả nghiên cứu đã bị gác lại hoặc "chết" trong thung lũng, chỉ vỏn vẹn 10% cơ may ra được thị trường.
Theo ThS. Lê Thị Khánh Vân, một nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự đứt gãy giữa nghiên cứu và thực tiễn chính là sự xung đột về tư duy và động lực giữa doanh nghiệp và nhà khoa học. Doanh nghiệp hướng đến lợi nhuận, còn Nhà khoa học hướng đến tính hàn lâm.
“Nhà khoa học đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối, tính mới và tính sáng tạo để đăng kí bảo hộ sở hữu trí tuệ, nhưng lại bỏ qua câu hỏi then chốt: Thị trường có thực sự cần sản phẩm này không? Nó có giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực cạnh tranh hay không?”, bà nói. “Trong khi đó, doanh nghiệp đòi hỏi tính khả thi thương mại và khả năng sản xuất hàng loạt”.
“Nhà khoa học nghiên cứu kiên trì theo năm tháng (thường kéo dài 2 - 3 năm cho một đề tài) trong khi doanh nghiệp chịu áp lực thời gian cực lớn, cần sản phẩm ra thị trường hàng tuần, không thể chờ đợi các chu kì nghiệm thu kéo dài nhiều năm”, Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH&CN Việt Nam (VASTI) nói.
CẦN BÀI TOÁN ĐẶT HÀNG CỤ THỂ TỪ DOANH NGHIỆP VÀ CƠ CHẾ ĐỒNG TÀI TRỢ
PGS.TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam (VAST), cũng thừa nhận về “một khoảng trống rất lớn” trong việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu công nghệ sinh học thành sản phẩm thương mại, dù lĩnh vực công nghệ sinh học của Việt Nam được đánh giá vô cùng tiềm năng. Theo ông, thực tiễn tổng kết cho thấy 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay.
Thứ nhất, thiếu cơ chế đặt hàng dài hạn. Các nghiên cứu còn phân mảnh, chưa được đầu tư bài bản và tập trung để tạo ra sản phẩm ứng dụng hoàn chỉnh.
Thứ hai, liên kết Viện - Trường chưa đạt hiệu quả cao. Mặc dù đã có sự kết nối giữa các viện nghiên cứu và trường đại học, nhưng trong giai đoạn vừa qua, sự liên kết này vẫn còn mang tính hình thức, chưa đem lại giá trị thiết thực.
Thứ ba, nút thắt về mở rộng quy mô. “Chúng ta tạo ra những sản phẩm rất xuất sắc trong phòng thí nghiệm, nhưng để chuyển hóa thành sản phẩm thương mại của doanh nghiệp thì lại gặp vướng mắc. Để vượt qua "thung lũng chết" này, sản phẩm cần phải được chuẩn hóa, nâng cấp quy mô sản xuất, chuyển giao công nghệ và được định giá, thương mại hóa thành các sản phẩm tài chính”, PGS.TS. Phí Quyết Tiến nói.
Xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn, PGS.TS. Phí Quyết Tiến thấy rằng một quy trình hoàn chỉnh để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất phải trải qua các bước bài bản: từ khâu khởi đầu nghiên cứu, xác định công nghệ cốt lõi, chuẩn hóa quy trình, thử nghiệm ở quy mô bán công nghiệp trước khi chuyển giao cho doanh nghiệp, cho đến giai đoạn doanh nghiệp tiếp nhận, vận hành và điều chỉnh.
Đặc biệt, ông nhấn mạnh “nhu cầu đặt hàng và phản hồi từ thị trường chính là "kim chỉ nam" giúp định vị và xác định lại các ưu tiên nghiên cứu”. Bên cạnh đó, việc kết hợp công nghệ sinh học với thiết bị cảm biến, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet kết nối vạn vật (IoT) sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ chẩn đoán và dự báo.
“Trong kỉ nguyên số, để rút ngắn con đường đi đến đích, nền tảng dữ liệu lớn (Big Data) và sinh học hệ thống đóng vai trò then chốt. Chúng tôi định hướng tập trung phát triển: Công nghệ khai thác dữ liệu Bộ gen metagenome; Ứng dụng AI và tin sinh học; Giải mã hệ gen và chẩn đoán chính xác”, PGS.TS. Phí Quyết Tiến nói.
Ngoài ra, PGS.TS. Phí Quyết Tiến cho rằng để đưa các nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường và chuyển hóa thành tài sản tài chính, rất cần cơ chế liên kết chặt chẽ, sự đồng hành của các Quỹ đầu tư và sự chung tay trực tiếp từ phía doanh nghiệp.
“Qua thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi rút ra bài học cốt lõi, cần phải có bài toán đặt hàng cụ thể từ phía doanh nghiệp, đi kèm cơ chế đồng tài trợ và nghiệm thu theo tiến độ công việc”, ông nói.
Từ nội soi độ phân giải cao, xét nghiệm sinh học phân tử đến trí tuệ nhân tạo (AI), những tiến bộ công nghệ đang hỗ trợ bác sĩ phát hiện tổn thương sớm hơn, giảm nguy cơ bỏ sót và mở rộng lựa chọn điều trị cho người bệnh…
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…