Muốn trẻ em được dùng “Internet sạch”, các gia đình cần có “bộ lọc”
Hoàng Hà
18/08/2023
Giống như với nhà máy nước, các nhà cung cấp dịch vụ Internet chỉ cung cấp một “đường ống chung” để các hộ gia đình, nhà trường truy cập Internet. Nhưng muốn trẻ được dùng “Internet sạch”, các gia đình cần có “bộ lọc” …
Tác động tích cực của mạng internet trong đời sống và đối với trẻ em là điều không thể phủ nhận. Nhờ có mạng Internet, trẻ em có thể học tập trực tuyến, hoàn thiện các kỹ năng, tư duy phản biện, làm việc nhóm, bổ sung các kỹ năng ngôn ngữ, tham gia các hội nhóm, cộng đồng có cùng sở thích.
Ngoài ra còn rất nhiều các kỹ năng khác nữa, 7/12 kỹ năng đã được Diễn đàn Kinh tế Thế giới vạch ra là công dân thế kỷ 21 cần phải có và hơn phân nửa các kỹ năng liên quan đến media và công nghệ. Thành thạo sử dụng internet và các thiết bị điện tử sẽ giúp các em hoàn thiện các kỹ năng.
Tuy nhiên, Internet cũng có mặt trái, đó là nguy cơ những thông tin không phù hợp tiếp cận trẻ, hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, thậm chí nhận thức bị lệch lạc. Nhân dịp năm học mới sắp bắt đầu và để mang tới cho độc giả những cái nhìn cận cảnh hơn về vấn đề có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội này, Trung tâm Kết nối Công nghệ Tương lai (Tech Connect), Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Talkshow the WISE Talk số 09 với chủ đề “Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng: Những lỗ hổng cần 'trám'".
BỐ MẸ TRÔNG CẬY VÀO “CỬA NÀO” ĐỂ ĐẢM BẢO CON TRẺ CÓ MẠNG “INTERNET SẠCH”?
Số liệu thống kê từ Viện nghiên cứu Quản lý và Phát triển bền vững từng chỉ ra rằng có tới 40% trẻ em cảm thấy không an toàn khi sử dụng internet và hơn 70% trẻ em từng có trải nghiệm không mong muốn khi sử dụng internet.
Theo ông Ngô Việt Khôi, chuyên gia đào tạo nhận thức an toàn thông tin, nguyên Giám đốc Quốc gia Trend Micro, thông thường, để một nội dung, chẳng hạn như một bộ phim, được phát hành trên một trang web hay mạng xã hội, sẽ có 3 khâu “gác cổng”.
Thứ nhất, nội dung đó có được dán nhãn dành cho trẻ em hay không.
Thứ hai, các ông lớn Internet giờ đây cũng cung cấp những ứng dụng dành riêng cho trẻ em, ví dụ như Messenger Kids hay Youtube Kids. Nhưng trong thực tế, “cổng” dán nhãn nội dung và “cổng” ứng dụng dành riêng cho trẻ em rất khó kiểm soát và hầu như bố mẹ không thể trông cậy, bởi khi trẻ cài một ứng dụng trên điện thoại, đặc biệt là điện thoại riêng của trẻ, hầu như các em không phụ thuộc gì vào bố mẹ.
Vì thế, khâu thứ ba chính là những người ở bên cạnh trẻ, gần gũi với trẻ nhất. Ông Ngô Việt Khôi cho biết, có đến 95% câu hỏi mà ông nhận được khi làm công tác đào tạo nhận thức an toàn thông tin hay tư vấn cho bố mẹ, đều là câu hỏi liên quan đến việc bố mẹ kiểm soát con trẻ sử dụng mạng Internet như thế nào. Giải pháp kiểm soát này sẽ là kiểm soát về thời gian, trẻ sử dụng mạng Internet trong bao lâu, giờ giấc nào. Và thứ hai là kiểm soát về mặt nội dung, trẻ xem những gì trên mạng Internet.
“Theo tôi, chúng ta không thể trông chờ vào việc dán nhãn nội dung hay các ứng dụng cài trên máy trẻ có phù hợp với lứa tuổi hay không. Chúng ta cũng không thể chắc tất cả các ông bố bà mẹ đều có đủ trình độ và khả năng sư phạm để làm bạn với con”, chuyên gia về đào tạo nhận thức an toàn thông tin, cho biết. “Vậy thì còn một khả năng nữa, đó là đặt một “bộ lọc” vào môi trường Internet mà trẻ sử dụng”.
“Theo tôi, chúng ta không thể trông chờ vào việc dán nhãn nội dung hay các ứng dụng cài trên máy trẻ có phù hợp với lứa tuổi hay không. Chúng ta cũng không thể chắc tất cả các ông bố bà mẹ đều có đủ trình độ và khả năng sư phạm để làm bạn với con”, chuyên gia về đào tạo nhận thức an toàn thông tin, cho biết. “Vậy thì còn một khả năng nữa, đó là đặt một “bộ lọc” vào môi trường Internet mà trẻ sử dụng”.
Tuy nhiên, giải pháp kiểm soát cũng ngày càng khó thực hiện bởi khoảng cách về mặt công nghệ giữa trẻ em và bố mẹ càng ngày càng lớn. Ngoài ra, sự riêng tư của các con cũng càng ngày càng lớn nên bố mẹ sẽ càng chật vật hơn trong việc làm bạn với con và đưa ra lời khuyên để con không xem những nội dung không mong muốn.
Ông Ngô Việt Khôi cho rằng hiện nay nhà mạng chỉ cung cấp một đường truyền internet giống như nối một đường ống từ bể nước về các gia đình, còn chất lượng của nước trong đường ống như thế nào thì nhà mạng chưa thể chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nếu chờ đến ngày họ có một “bộ lọc xịn xò” thì chắc là ngày đấy còn lâu lắm. Vì vậy, chúng ta phải chủ động bật những bộ lọc riêng mà chúng ta có thể có.
KẾT HỢP GIỮA GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ VÀ CHA MẸ ĐỒNG HÀNH
Đồng quan điểm, ông Ngô Tuấn Anh, CEO Công ty An ninh mạng thông minh SCS, cho rằng câu chuyện bảo vệ trẻ an toàn trên môi trường mạng sẽ liên quan đến vấn đề kỹ thuật.
Tuy vậy, giải pháp kỹ thuật phải giải quyết được hai vấn đề. Thứ nhất, giải pháp phải đơn giản, dễ dùng.
Đối với các doanh nghiệp, tổ chức, việc chặn một địa chỉ website hay ứng dụng không mong muốn rất dễ dàng nhờ chuyên môn của đội ngũ CNTT và các thiết bị chuyên dụng.
Nhưng trong gia đình, nó trở thành bài toán khó. Chẳng hạn, gia đình không muốn con vào mạng xã hội quá nhiều vì ảnh hưởng sức khỏe và tâm thần, nhưng nếu cắt hẳn mạng Internet thì con lại không thể học trực tuyến. Vấn đề thứ hai chính là chi phí.
Giải pháp kỹ thuật phải có mức chi phí hợp lý với các gia đình, vì nếu mức phí này quá cao, các gia đình sẽ khó khăn trong việc trang bị “bộ lọc” đó.
Ông Ngô Tuấn Anh cũng cho biết đang cố gắng có những chương trình kết hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ internet để khi một khách hàng mới bắt đầu sử dụng dịch vụ Internet sẽ có luôn “bộ lọc” ở ngay đầu đường ống.
Mặc dù vậy, CEO SCS vẫn khẳng định để tạo ra một môi trường Internet an toàn, cần sự kết hợp giữa giải pháp công nghệ và cha mẹ đồng hành.
"Cha mẹ làm bạn với con, hiểu con, tạo môi trường tương tác, con trẻ coi cha mẹ là những người bạn, như vậy chúng ta mới tạo ra được môi trường mạng an toàn cho trẻ”, CEO SCS nói
Từ nội soi độ phân giải cao, xét nghiệm sinh học phân tử đến trí tuệ nhân tạo (AI), những tiến bộ công nghệ đang hỗ trợ bác sĩ phát hiện tổn thương sớm hơn, giảm nguy cơ bỏ sót và mở rộng lựa chọn điều trị cho người bệnh…
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…