“Luật hóa” tài sản mã hóa: Bước ngoặt cho tương lai số của Việt Nam?
Hoàng An
02/07/2025
Bằng cách tạo ra hành lang pháp lý cho môi trường hoạt động, chuyên gia cho rằng luật mới bảo vệ các nhà phát triển trong nước và cho phép các nhà đầu tư tự tin hơn, đồng thời tạo điều kiện cho các sàn giao dịch hiện tại có hướng đi rõ ràng để mở rộng tại thị trường Việt Nam...
Theo Tiến sĩ Jeff Nijsse, giảng viến cấp cao Đại học RMIT và chuyên gia về tài sản mã hóa, với việc Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026), Việt Nam chính thức hợp pháp hóa việc sở hữu và sử dụng tài sản mã hóa. "Dấu mốc này đã chấm dứt tình trạng nhiều năm mơ hồ về mặt pháp lý và ước tính khoảng 17 triệu người Việt Nam hiện đang nắm giữ tài sản mã hóa sẽ được công nhận và bảo vệ chính thức theo pháp luật…", ông cho biết.
“Tài sản mã hóa” là hạng mục bao trùm cho tiền mã hóa, với chức năng tài chính rõ ràng và hoạt động trên chuỗi khối (blockchain) riêng. Những tài sản này được định nghĩa là sử dụng công nghệ mã hóa để xác thực trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao.
Như vậy, các loại tiền mã hóa phổ biến như Bitcoin (BTC) và Ethereum (ETH) hoàn toàn phù hợp với định nghĩa “tài sản mã hóa” vì chúng được coi là có chức năng tài chính và sử dụng công nghệ mã hóa. Cách phân loại này giúp hàng triệu nhà đầu tư tại Việt Nam tin tưởng rằng những tài sản này không còn phải nằm trong vùng xám về mặt pháp lý”.
“Tài sản mã hóa” là hạng mục bao trùm cho tiền mã hóa, với chức năng tài chính rõ ràng và hoạt động trên chuỗi khối (blockchain) riêng. Những tài sản này được định nghĩa là sử dụng công nghệ mã hóa để xác thực trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao. Như vậy, các loại tiền mã hóa phổ biến như Bitcoin (BTC) và Ethereum (ETH) hoàn toàn phù hợp với định nghĩa “tài sản mã hóa” vì chúng được coi là có chức năng tài chính và sử dụng công nghệ mã hóa. Cách phân loại này giúp hàng triệu nhà đầu tư tại Việt Nam tin tưởng rằng những tài sản này không còn phải nằm trong vùng xám về mặt pháp lý”.
Luật Công nghiệp công nghệ số đầu tiên của Việt Nam lần đầu tiên đưa ra định nghĩa pháp lý cho “tài sản số”, phân loại thành hai nhóm chính gồm “tài sản ảo” và đáng chú ý là “tài sản mã hóa”.
“Tài sản mã hóa” là hạng mục bao trùm cho tiền mã hóa, với chức năng tài chính rõ ràng và hoạt động trên chuỗi khối (blockchain) riêng. Những tài sản này được định nghĩa là sử dụng công nghệ mã hóa để xác thực trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao.
“Như vậy, các loại tiền mã hóa phổ biến như Bitcoin (BTC) và Ethereum (ETH) hoàn toàn phù hợp với định nghĩa “tài sản mã hóa” vì chúng được coi là có chức năng tài chính và sử dụng công nghệ mã hóa. Cách phân loại này giúp hàng triệu nhà đầu tư tại Việt Nam tin tưởng rằng những tài sản này không còn phải nằm trong vùng xám về mặt pháp lý”, Tiến sĩ Jeff Nijsse chia sẻ.
Trong khi đó, “tài sản ảo” có thể được hiểu là bao gồm các tài sản kỹ thuật số như điểm thưởng hoặc vật phẩm ảo trong game, vốn không thực sự có chức năng tài chính. Sự tách biệt này rất quan trọng để tạo ra quy định có mục tiêu và hiệu quả.
MỞ RA CÁNH CỬA ĐẦY TRIỂN VỌNG CHO CÁC DOANH NHÂN TÀI SẢN MÃ HÓA
Theo Tiến sĩ Jeff Nijsse, đối với các công ty khởi nghiệp và nhà phát triển trong lĩnh vực tài sản mã hóa, tác động từ việc ban hành luật là tức thì. Luật cung cấp khuôn khổ rõ ràng để xây dựng và vận hành các doanh nghiệp tài sản mã hóa tại Việt Nam, nhằm đảo ngược xu hướng các công ty khởi nghiệp đăng ký kinh doanh tại các quốc gia khác như Singapore để tìm kiếm sự rõ ràng về mặt pháp lý. Điều này mở ra một thị trường khổng lồ trong nước vốn chưa tồn tại chính thức trước đây.
“Bằng cách tạo ra hành lang pháp lý cho môi trường hoạt động, luật mới bảo vệ các nhà phát triển trong nước và cho phép các nhà đầu tư tự tin hơn, đồng thời tạo điều kiện cho các sàn giao dịch hiện tại có hướng đi rõ ràng để mở rộng tại thị trường Việt Nam. Chúng ta có thể mong đợi sẽ có nhiều sàn giao dịch quốc tế chuẩn bị cho hoạt động kinh doanh tại Việt Nam từ năm 2026 khi luật có hiệu lực”, Tiến sĩ Jeff Nijsse cho biết.
VIỆT NAM TRONG CUỘC ĐUA TRỞ THÀNH TRUNG TÂM TÀI SẢN MÃ HÓA HÀNG ĐẦU CỦA KHU VỰC
Tiến sĩ Jeff Nijsse cũng cho rằng, ở cấp quốc gia, luật mới tạo điều kiện chính thức hóa thị trường blockchain trị giá 105 tỉ đô la Mỹ tại Việt Nam. Mục tiêu chính ở tầm quốc gia là đưa một "nền kinh tế ngầm" khổng lồ, trước đây không bị đánh thuế vào khu vực chính thức. Bằng cách ban hành quy định cho lĩnh vực này, Việt Nam có thể theo dõi hoạt động, tạo ra nguồn thu thuế đáng kể và hạn chế tình trạng “tháo chạy vốn” hiện xảy ra thông qua các sàn giao dịch nước ngoài.
“Với Luật Công nghiệp công nghệ số, Việt Nam đang định vị mình là một đối thủ cạnh tranh nghiêm túc với Singapore và Thái Lan trong cuộc đua trở thành trung tâm tài sản mã hóa hàng đầu của khu vực. Bên cạnh dân số trẻ am hiểu công nghệ và cộng đồng nhà phát triển năng động, Việt Nam hiện đã có nền tảng pháp lý để hỗ trợ cho tham vọng của mình”, Tiến sĩ Jeff Nijsse chia sẻ.
STABLECOIN SẼ ĐƯỢC QUẢN LÝ RIÊNG
Cũng theo Tiến sĩ Jeff Nijsse, đáng chú ý, luật mới không coi các loại stablecoin được neo theo tiền pháp định và tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành (CBDC) là tài sản mã hóa. Những loại tiền này sẽ vẫn tuân theo các luật dân sự và tài chính hiện hành.
Các stablecoin như Tether và USDC thuộc nhóm những tài sản tài chính tăng trưởng nhanh nhất trong những năm gần đây. Giá trị của stablecoin được neo theo một lượng tiền truyền thống do chính phủ phát hành như đô la Mỹ hoặc Euro. Do vậy, chúng được coi là một dạng số của tiền pháp định.
“Luật mới nêu rõ rằng các dạng số của tiền pháp định không được coi là “tài sản mã hóa” hoặc “tài sản ảo”. Do đó, chúng nằm ngoài phạm vi của luật và sẽ tuân theo khuôn khổ quản lý các phương thức thanh toán và công cụ tài chính khác. Hy vọng rằng trong tương lai, quy định rõ ràng hơn về stablecoin sẽ cho phép các doanh nghiệp kết hợp thanh toán stablecoin vào hoạt động của mình”, Tiến sĩ Jeff Nijsse nhấn mạnh.
Dòng sự kiện:
Trí tuệ nhân tạo -AIKhi sự tiện ích và thấu cảm của trí tuệ nhân tạo (AI) vô tình biến công nghệ này thành một "tri kỷ ảo", các doanh nghiệp Việt cũng đồng thời phải đối mặt với những góc khuất rủi ro bảo mật và những bài toán về an ninh mạng chưa có tiền lệ.
Các doanh nghiệp tạo tác động xã hội (SIB) tại Việt Nam đang cho thấy tác động tích cực về xã hội và môi trường có thể tạo ra giá trị kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những cơ hội thị trường mới…
The WISE Talk số 21 với chủ đề "An ninh mạng trong kỷ nguyên AI" được phát sóng trên trang chủ và Fanpage của VnEconomy vào 14:00, ngày 20/08/2026.
Theo Báo cáo của ILO, khoảng 11,5 triệu lao động tại Việt Nam, tương đương 1/5 lực lượng lao động, đang làm những công việc có khả năng chịu tác động của AI tạo sinh…
Trong bức tranh kinh doanh hiện đại, trí tuệ nhân tạo (AI) đang được ví như một động cơ siêu tốc, thúc đẩy mọi doanh nghiệp chuyển mình. Thế nhưng, đằng sau sự hào nhoáng của những cơ hội tăng trưởng ấy lại là một thực tế đáng báo động…
Lượng tử là lĩnh vực mà Việt Nam “khó có thể đứng ngoài”. Vấn đề đặt ra là phát triển theo cách phù hợp để bắt kịp thế giới, trong đó chuẩn bị nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu quan trọng nhất...
Dữ liệu có thể trở thành “tiêu sản” nếu quản trị không tốt, sai lệch, không được khai thác hoặc chi phí lưu trữ, quản lý lớn hơn giá trị mà dữ liệu mang lại…
Cuộc đua AI trong doanh nghiệp không nằm ở việc ai có nhiều công cụ hơn, mà ở việc ai xác định đúng bài toán hơn. Doanh nghiệp cần nhìn AI từ góc độ giá trị kinh doanh, thay vì chỉ đo số lượng người dùng, số lượng chatbot hay số quy trình được tự động hóa...
Năng lượng ổn định, chi phí hợp lý cần được xem là nền tảng chiến lược cho mục tiêu phát triển AI của Việt Nam, bên cạnh dữ liệu, chip và hạ tầng điện toán.
Việc từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đang đặt ngành giáo dục trước yêu cầu lớn về phát triển đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy và xây dựng môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, hiệu quả…