Dữ liệu trở thành "tài sản mới" của nông sản Việt
Bảo Bình
18/06/2026
Dữ liệu không chỉ là công cụ phục vụ sản xuất hay truy xuất nguồn gốc, mà còn là cơ sở để xây dựng tiếng nói chung cho toàn ngành nông nghiệp, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế...
Nhiều năm qua, lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt Nam chủ yếu được xây dựng dựa trên sản lượng, chi phí sản xuất và điều kiện tự nhiên thuận lợi. Tuy nhiên, khi các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về chất lượng, tính bền vững và minh bạch, dữ liệu và công nghệ truy xuất nguồn gốc đang trở thành “chìa khóa quyết định” giá trị sản phẩm.
Các mặt hàng truyền thống như trái cây, hồ tiêu, gạo hay cà phê, giá trị không còn nằm hoàn toàn ở bản thân sản phẩm mà ngày càng gắn chặt với khả năng chứng minh chất lượng thông qua dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.
KHÔNG CHỈ CẠNH TRANH BẰNG THƯƠNG HIỆU, MÀ CÒN BẰNG DỮ LIỆU
Xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với ngành nông nghiệp. Nếu trước đây người mua chủ yếu quan tâm đến giá cả và chất lượng cảm quan, thì hiện nay họ muốn tiếp cận toàn bộ hành trình của sản phẩm từ nông trại đến bàn ăn.
Theo ông Trần Tấn Việt, Thành viên HĐQT AgriS, Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT Công ty CP Phát triển Nông nghiệp AgriS, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Thành Thành Công, cạnh tranh trong tương lai không chỉ là cạnh tranh bằng thương hiệu theo nghĩa truyền thống mà còn là cạnh tranh bằng dữ liệu.
Dữ liệu về vùng trồng, giống cây, đặc điểm thổ nhưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, quy trình chăm sóc, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch, đóng gói, vận chuyển và các chứng nhận liên quan đang trở thành cơ sở quan trọng để doanh nghiệp chứng minh chất lượng sản phẩm với khách hàng.
Truy xuất nguồn gốc không còn đơn thuần là một thủ tục hành chính hay yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu. Đây đang trở thành công cụ giúp doanh nghiệp kể câu chuyện về sản phẩm, tạo dựng niềm tin và nâng cao giá trị hàng hóa.
Một bước tiến quan trọng là từ ngày 1/7/2026, Thông tư số 31 của Bộ Công Thương về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ chính thức có hiệu lực. Theo quy định, người tiêu dùng có thể truy cập hệ thống truy xuất nguồn gốc để tra cứu miễn phí nhiều thông tin cơ bản về sản phẩm như tên hàng hóa, hình ảnh, đơn vị sản xuất hoặc kinh doanh, địa chỉ doanh nghiệp, thương hiệu, nhãn hiệu, số lô sản xuất, số sê-ri và hạn sử dụng nếu có.
Việc người tiêu dùng có thể chủ động kiểm chứng thông tin cho thấy truy xuất nguồn gốc đang chuyển từ công cụ phục vụ quản lý sang một cơ chế tạo dựng niềm tin giữa nhà sản xuất và thị trường. Khi dữ liệu được công khai và minh bạch, giá trị của sản phẩm cũng được nâng lên nhờ khả năng chứng minh chất lượng một cách khách quan.
CHUỖI GIÁ TRỊ PHÂN MẢNH LÀM SUY GIẢM SỨC MẠNH DỮ LIỆU
Mặc dù vai trò của dữ liệu ngày càng được khẳng định, việc xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất cho ngành nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều thách thức.
Một trong những điểm yếu lớn nhất hiện nay là sự phân mảnh của chuỗi nông sản. Nông dân, doanh nghiệp, đơn vị chế biến, logistics, nhà khoa học, hiệp hội ngành hàng và cơ quan quản lý vẫn chưa được kết nối thành một hệ thống vận hành đồng bộ. Điều này khiến việc thu thập, chia sẻ và xác thực dữ liệu gặp nhiều khó khăn.
Đặc biệt, đối với người nông dân, khó khăn không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở nguồn lực tài chính. Thiếu vốn, thiếu thông tin thị trường và thiếu điều kiện đầu tư cho chuyển đổi số khiến nhiều hộ sản xuất vẫn duy trì mô hình canh tác manh mún. Điều này làm giảm khả năng tham gia vào các chuỗi cung ứng hiện đại, nơi dữ liệu và truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu bắt buộc.
Trong khi đó, ở góc độ xuất khẩu, những khó khăn về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định xuất xứ, xúc tiến thương mại và thủ tục hành chính cũng cho thấy tầm quan trọng của vai trò liên kết. Theo bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, khi hiệp hội nắm bắt đầy đủ thực tiễn ngành hàng, tổng hợp thành kiến nghị cụ thể và duy trì đối thoại thường xuyên với cơ quan quản lý, hiệu quả tháo gỡ chính sách sẽ cao hơn so với việc từng doanh nghiệp đơn lẻ tự phản ánh.
Điều đó cho thấy dữ liệu không chỉ là công cụ phục vụ sản xuất hay truy xuất nguồn gốc, mà còn là cơ sở để xây dựng tiếng nói chung cho toàn ngành, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
CHUYỂN TỪ TƯ DUY TĂNG SẢN LƯỢNG SANG TĂNG GIÁ TRỊ
Sự thay đổi của thị trường đang buộc nông nghiệp Việt Nam phải chuyển từ tư duy tăng sản lượng sang tăng giá trị. Trong mô hình mới, dữ liệu đóng vai trò như một loại tài sản chiến lược giúp nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Điều này đòi hỏi sự chuyển dịch từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, từ bán sản phẩm đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ sản xuất dựa trên kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên dữ liệu và từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, độ tin cậy và khả năng minh bạch thông tin.
Theo bà Ngô Tường Vy, CEO Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, kinh nghiệm thực tế cho thấy năng lực cạnh tranh dài hạn phải được xây dựng từ vùng nguyên liệu. Nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần cùng tham gia vào một chuỗi giá trị thống nhất, áp dụng quy trình sản xuất đạt chuẩn, số hóa dữ liệu canh tác và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng.
Bên cạnh việc số hóa dữ liệu sản xuất, đầu tư vào công nghệ sau thu hoạch, hệ thống đóng gói, bảo quản lạnh, logistics và chuyển đổi số cũng là những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh lâu dài của ngành nông nghiệp. Nếu chuỗi cung ứng thiếu liên kết hoặc không đủ khả năng thích ứng trước biến động của thị trường, thời tiết và chính sách thương mại quốc tế, lợi thế cạnh tranh sẽ rất khó được duy trì.
Các chuyên gia nhấn mạnh dữ liệu đang dần trở thành một loại "hạ tầng mềm" quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm. Khi xây dựng được những chuỗi giá trị minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và thích ứng tốt với biến động toàn cầu, nông sản Việt Nam sẽ không chỉ mở rộng thị trường mà còn nâng cao vị thế bằng chính chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng của mình.
Từ nội soi độ phân giải cao, xét nghiệm sinh học phân tử đến trí tuệ nhân tạo (AI), những tiến bộ công nghệ đang hỗ trợ bác sĩ phát hiện tổn thương sớm hơn, giảm nguy cơ bỏ sót và mở rộng lựa chọn điều trị cho người bệnh…
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…