Ở các tập đoàn lớn, nhiều thứ đã có sẵn, từ chuẩn thiết kế đến quy trình. Chính những điều được mặc định là có sẵn này giúp các cá nhân và nhóm kỹ thuật có thể tập trung vào phần việc chuyên môn của mình
Doanh nghiệp chip Việt đang đối mặt với những “khoảng trống” nào?
Bảo Bình
21/09/2026
Tại các tập đoàn lớn, nhiều thứ dường như đã “mặc định có sẵn”, từ chuẩn thiết kế đến quy trình. Nhưng khi một doanh nghiệp Việt muốn tự phát triển sản phẩm, những yếu tố đó không còn có sẵn nữa và họ bắt đầu đối mặt với nhiều khoảng trống…
Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bán dẫn, từ xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế đến lực lượng lao động trẻ và dư địa đào tạo còn lớn. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Bảo Anh, Đồng sáng lập và Tổng Giám đốc VSAP Lab, khoảng cách không chỉ nằm ở nhân lực mà còn ở khả năng kết nối các năng lực rời rạc để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh.
Ở CÁC TẬP ĐOÀN LỚN, NHIỀU THỨ ĐÃ CÓ SẴN, TỪ CHUẨN THIẾT KẾ ĐẾN QUY TRÌNH
Ông Nguyễn Bảo Anh cho biết mình đã có hơn 20 năm làm việc trong ngành thiết kế và sản xuất chip, bắt đầu từ các công ty dịch vụ thiết kế quy mô nhỏ, sau đó chuyển sang những doanh nghiệp lớn hơn với các sản phẩm có độ phức tạp cao hơn, trước khi bước sang một lĩnh vực mới là đóng gói chip.
Quá trình làm việc trong các tập đoàn lớn giúp ông nhận thấy một đặc điểm ít được nhìn thấy từ bên ngoài: để một sản phẩm có thể được phát triển, bên cạnh năng lực của từng kỹ sư hay từng công đoạn, doanh nghiệp còn cần cả một hệ thống tiêu chuẩn, quy trình và kinh nghiệm đã được xây dựng từ trước.
“Ở các tập đoàn lớn, nhiều thứ đã có sẵn, từ chuẩn thiết kế đến quy trình”, ông Bảo Anh chia sẻ. Chính những điều được mặc định là có sẵn này giúp các cá nhân và nhóm kỹ thuật có thể tập trung vào phần việc chuyên môn của mình.
Nhưng khi rời môi trường của các tập đoàn lớn để khởi nghiệp, tự xây dựng doanh nghiệp trong lĩnh vực bán dẫn, những khoảng trống bắt đầu xuất hiện rõ hơn.
Theo ông Bảo Anh, Việt Nam hiện đã có tương đối nhiều công ty nước ngoài hoạt động ở những thành phần khác nhau trong chuỗi thiết kế - sản xuất chip. Điều đó đồng nghĩa với việc một số năng lực và kinh nghiệm của ngành bán dẫn đã hiện diện tại Việt Nam. Tuy nhiên, các thành phần này vẫn còn rời rạc.
“Ở Việt Nam có lực lượng biết làm cái này, biết làm cái kia một ít, nhưng khi tự đứng ra làm một sản phẩm hoàn chỉnh thì sẽ gặp vướng”, ông nói.
KHOẢNG TRỐNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHIP VIỆT
Theo ông, chính trải nghiệm của bản thân khi chuyển từ môi trường tập đoàn sang “tự làm chủ” đã cho thấy rõ vấn đề này. Khi làm việc cho các công ty lớn, kỹ sư không nhất thiết phải tự xây dựng toàn bộ hệ thống hỗ trợ phía sau một sản phẩm. Các tiêu chuẩn thiết kế, quy trình phát triển và nhiều kinh nghiệm tổ chức đã được tích lũy qua nhiều năm. Nhưng khi một doanh nghiệp mới muốn tự phát triển sản phẩm, những yếu tố đó không còn là điều hiển nhiên.
Khoảng cách vì thế không đơn thuần nằm ở việc một cá nhân hay doanh nghiệp có biết thiết kế chip, đóng gói hay thực hiện một công đoạn kỹ thuật cụ thể hay không. Vấn đề là làm thế nào để nhiều năng lực khác nhau có thể phối hợp với nhau, tạo thành một quy trình hoàn chỉnh và cuối cùng cho ra một sản phẩm có thể đưa ra thị trường.
Khi doanh nghiệp có khả năng tự làm, những kiến thức và kinh nghiệm không còn chỉ nằm ở từng cá nhân mà bắt đầu được tích lũy ở cấp độ tổ chức. Từ đó, các doanh nghiệp khác nhau có thể hình thành mối liên kết và từng bước tạo ra những thành phần của một chuỗi cung ứng trong nước.
Đây cũng là một trong những điểm mà ông cho rằng Việt Nam cần từng bước xây dựng nếu muốn tham gia ở mức độ cao hơn trong chuỗi bán dẫn. Ông Louis Cao, Giám đốc Vận hành (COO) của Mạng lưới Đổi mới Sáng tạo Bán dẫn Việt Nam (Vietnam Semiconductor Innovation Network), cũng cho rằng Việt Nam có nhiều công ty, nhà đầu tư riêng lẻ trong từng mắt xích của ngành bán dẫn, nhưng chưa có một cộng đồng bán dẫn liên kết chặt chẽ với nhau và đặc biệt chưa có một chuỗi cung ứng bán dẫn nội địa.
Từ góc nhìn đó, ông Bảo Anh cho rằng bước đầu tiên không nhất thiết là tìm cách hiện diện ở mọi công đoạn của ngành bán dẫn. Quan trọng hơn là lựa chọn một hướng đi có thể tạo ra giá trị cụ thể ở thời điểm hiện tại và có khả năng xây dựng năng lực thực tế.
XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỖ TRỢ ĐỂ DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
Đây cũng là lý do VSAP Lab lựa chọn hướng đóng gói tiên tiến (advanced packaging). Theo ông, nhu cầu về chip đang thay đổi khi năng lực tính toán không còn chỉ phụ thuộc vào một con chip đơn lẻ. Các hệ thống có thể được tạo thành từ nhiều chip kết nối với nhau trong một gói tiên tiến, qua đó nâng cao năng lực của toàn hệ thống. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn một lĩnh vực có nhu cầu thực tế và còn dư địa phát triển có thể giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực, tích lũy kinh nghiệm và từng bước xây dựng năng lực riêng.
Tuy nhiên, theo ông Bảo Anh, lựa chọn lĩnh vực chỉ là bước đầu. Điều quan trọng tiếp theo là phải xây dựng được môi trường hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tự phát triển sản phẩm từ đầu đến cuối.
Khi doanh nghiệp có khả năng tự làm, những kiến thức và kinh nghiệm không còn chỉ nằm ở từng cá nhân mà bắt đầu được tích lũy ở cấp độ tổ chức. Từ đó, các doanh nghiệp khác nhau có thể hình thành mối liên kết và từng bước tạo ra những thành phần của một chuỗi cung ứng trong nước.
Thời điểm hiện nay đang tạo ra một số điều kiện thuận lợi để Việt Nam xây dựng năng lực trong lĩnh vực bán dẫn. Nhu cầu chip đang tăng, trong khi những thay đổi về địa chính trị thúc đẩy các tập đoàn quốc tế tìm kiếm và đa dạng hóa địa điểm trong chuỗi cung ứng. Việt Nam được nhìn nhận là một trong những địa điểm có những yếu tố mà các nhà đầu tư có thể tiếp tục khai thác.
Bên cạnh đó, Việt Nam có lực lượng lao động tương đối trẻ và tỷ lệ sinh viên còn cao, tạo dư địa cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, lợi thế này đi cùng một thách thức: chất lượng đào tạo và sự liên kết giữa đào tạo với thực tế công nghiệp vẫn còn khoảng cách. Nếu không thu hẹp khoảng cách này, lợi thế về lực lượng lao động khó tự động chuyển thành năng lực phát triển sản phẩm.
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…
Một trong những điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực ngành bán dẫn là các trường đại học cùng phát triển nhiều lĩnh vực đào tạo, từ chương trình học đến hạ tầng, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên…