mua cua Cà Mau Sỉcua Cà Maumón ăn cua kỳ lạblog thú cưng

Tập đoàn nên chỉ là danh hiệu?

Tập đoàn kinh tế có lẽ nên là danh hiệu hơn là mô hình doanh nghiệp bị pháp luật điều chỉnh

Theo quan điểm của người viết, chỉ nên hiểu tập đoàn kinh tế là một nhóm các doanh nghiệp có mối quan hệ “huyết thống” trong hoạt động kinh doanh - Ảnh minh họa.
Theo quan điểm của người viết, chỉ nên hiểu tập đoàn kinh tế là một nhóm các doanh nghiệp có mối quan hệ “huyết thống” trong hoạt động kinh doanh - Ảnh minh họa.

Gần đây, dư luận lại một lần nữa xôn xao về dự thảo nghị định về việc hình thành, tổ chức, hoạt động và quản lý đối với tập đoàn kinh tế nhà nước.

Khoan bàn luận về việc có cần thiết phải có nghị định này hay không, trong bài viết này, người viết chỉ xin bàn luận về khái niệm thế nào là tập đoàn kinh tế, bởi nếu không nhận rõ được khái niệm này thì dù có xây dựng bao nhiêu mô hình, ban hành bao nhiêu nghị định thì kết quả đem lại sẽ không thể cao.

Cho đến thời điểm này, mặc dù có nhều quan điểm khác nhau nhưng hầu như tất cả các khái niệm về tập đoàn kinh tế đều thống nhất ở một điểm. Theo đó, tập đoàn kinh tế là một nhóm các doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.

Mặc dù thống nhất như vậy nhưng trong tư duy, hình như các nhà làm luật và các chuyên gia kinh tế vẫn đang vướng mắc ở một vấn đề. Đó là độ lớn của tập đoàn kinh tế.

Nguyên nhân của những tranh cãi có lẽ bắt nguồn từ các nghiên cứu được coi là “sách giáo khoa” trong vấn đề này. Khi nói về tập đoàn kinh tế, hầu như tất cả mọi tài liệu đều cho rằng, tập đoàn kinh tế có các đặc điểm sau: có quy mô lớn, có phạm vi hoạt động rộng; có cơ cấu sở hữu, tổ chức, cơ chế điều hành phức tạp

Cũng chính bởi những đặc điểm thường thấy này nên ai cũng nghĩ tập đoàn kinh tế là phải “lớn”. Nhưng vấn đề là ở chỗ cho đến nay không ai rõ thế nào là “lớn”. Vì thế, có vẻ người ta cứ cố lần mò thành lập cái mà bản thân họ cũng không biết rõ đó là cái gì.

Trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, điều 146, khoản 2 có ghi: “Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây: a) Công ty mẹ - công ty con; b) Tập đoàn kinh tế; c) Các hình thức khác”.

Theo hiểu biết có thể còn hạn chế của người viết, công ty mẹ - công ty con là một dạng của tập đoàn kinh tế. Không biết vì sao Luật Doanh nghiệp lại tách thành hai hình thức nhóm công ty khác nhau. Có lẽ vì người soạn luật nghĩ rằng: “Tập đoàn kinh tế” là phải “lớn”, còn nếu “nhỏ” thì không phải là tập đoàn kinh tế mà chỉ là công ty mẹ - công ty con?

Tuy nhiên, phải chăng vì bản thân người soạn luật cũng không biết “lớn” là phải như thế nào nên đành đẩy quả bóng “trách nhiệm” sang Chính phủ trong điều 149 của Luật Doanh nghiệp: “Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế.”

Sự lằng nhằng trong tư duy này đã dẫn đến một loạt những vấn đề mà không cẩn thận càng đi càng trở nên "lạc trong rừng rậm”.

Giả sử cứ cho rằng tập đoàn kinh tế là phải lớn và Chính phủ đưa ra một con số nào đó về vốn điều lệ ở công ty mẹ để quy ước như trong dự thảo nghị định vừa lấy ý kiến. Mọi chuyện dường như thật đơn giản.

Tuy nhiên, sự phức tạp lại bắt đầu từ đây. Giả sử vốn điều lệ của công ty mẹ không thấp hơn 3.000 tỷ đồng được coi là tập đoàn kinh tế. Vậy nếu vì một lý do nào đó, công ty mẹ phải giảm vốn điều lệ xuống dưới 3.000 tỷ thì phải chăng nhóm doanh nghiệp đó sẽ không được coi là tập đoàn kinh tế nữa?

Khi đã không còn là tập đoàn kinh tế có thể một loạt các văn bản pháp luật điều chỉnh tập đoàn kinh tế sẽ không còn hiệu lực điều chỉnh nhóm doanh nghiệp này. Sau đó, giả sử công ty mẹ lại tăng vốn điều lệ lên trên 3.000 tỷ. Hoạt động của nhóm doanh nghiệp này lại bị chi phối bởi các quy định của pháp luật liên quan đến tập đoàn kinh tế. Vậy nhóm doanh nghiệp này sẽ phải điều hành hoạt động thế này, nhà nước phải quản lý ra sao?

Mặt khác, nếu quy định mức vốn đủ lớn mới có thể trở thành tập đoàn kinh tế thì trở thành tập đoàn kinh tế có lợi ích gì? Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân nữa khiến người ta vẫn cứ tranh luận với nhau là tập đoàn kinh tế có tư cách pháp nhân không vì nếu không có tư cách pháp nhân, không có sự khác biệt gì với nhóm doanh nghiệp khác thì có lẽ cũng chẳng cần thành lập tập đoàn kinh tế làm gì.

Trong trường hợp đó, tập đoàn kinh tế có lẽ nên là danh hiệu hơn là mô hình doanh nghiệp bị pháp luật điều chỉnh.

Hơn nữa, quy định độ lớn của nhóm doanh nghiệp cũng không thể đơn giản chỉ là vốn điều lệ ở công ty mẹ được. Tại sao lại lấy vốn của một doanh nghiệp thành viên (dù là công ty mẹ) để đại diện cho cả tập đoàn? Phải chăng chính sự vương vấn trong tư duy đó đã dẫn đến việc trong tên một loạt các công ty mẹ tại các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay có thành tố “tập đoàn”.

Thực tế cho thấy, việc có thành tố này trong tên gọi đã dẫn đến tình trạng khi nói Tập đoàn Dầu khí chẳng hạn, người ta không hiểu là nói về công ty mẹ hay là nhóm công ty trong tập đoàn. Cũng chính sự không rõ ràng này mới dẫn đến tranh cãi tập đoàn kinh tế có tư cách pháp nhân hay không.

Tóm lại, theo quan điểm của người viết, chỉ nên hiểu tập đoàn kinh tế là một nhóm các doanh nghiệp có mối quan hệ “huyết thống” trong hoạt động kinh doanh. Vấn đề chỉ là định nghĩa mối quan hệ “huyết thống” ấy và tìm cách điều chỉnh mối quan hệ ấy khi cần thiết.

Không nên nghĩ rằng một nhóm doanh nghiệp nào đó phải "lớn" mới là tập đoàn kinh tế. Nếu cứ suy nghĩ như vậy, e rằng việc tranh cãi xung quanh khái niệm tập đoàn kinh tế vẫn cứ sẽ là một chủ đề không có hồi kết.

Văn hoá doanh nghiệp: Nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững

Khi vốn và công nghệ chỉ tạo ưu thế ngắn hạn, văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực nội sinh quyết định sức mạnh dài hạn. Đặt văn hóa làm trung tâm mọi quyết định, chuyển hóa giá trị thành hành vi ứng xử thường ngày sẽ kiến tạo năng lực cạnh tranh cốt lõi để phát triển bền vững...

Bắc Ninh cần chuẩn bị môi trường sống tương xứng với quy mô dòng vốn đầu tư

Với sự hiện diện ngày càng nhiều các tập đoàn công nghệ và sản xuất toàn cầu tại Bắc Ninh, câu chuyện đặt ra không đơn thuần là Bắc Ninh có bao nhiêu căn hộ có thể bán, hoặc cho người nước ngoài thuê mà là địa phương cần tạo dựng môi trường sống như thế nào để tương xứng với quy mô và chất lượng của dòng vốn FDI thế hệ mới…

Đồng bộ dữ liệu để người dân TP. Hồ Chí Minh hưởng lợi từ chuyển đổi số

Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.

Nâng tầm thương hiệu Việt trong kỷ nguyên AI

AI đang tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu, biến thương hiệu từ một công cụ truyền thông thuần túy trở thành tài sản chiến lược cốt lõi. Để thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp và chinh phục thị trường trong thời đại AI, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chuyển đổi tư duy, lấy dữ liệu và công nghệ làm bệ phóng tăng trưởng...

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy