
Trước tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra, Bộ Tài chính đã nhận được kiến nghị của một số địa phương đề nghị xem xét, sửa đổi mức thu và cách tính phí bảo vệ môi trường đối với họat động khai thác một số khoáng sản.
Do đó, Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định 63 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường và gửi các đơn vị có liên quan lấy ý kiến đóng góp.
Theo Nghị định 63, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với các loại quặng chì, kẽm, thiếc là 180.000 đồng/tấn; đối với các loại quặng mangan, sắt, đồng, bô xít, cromit khoảng từ 30.000-40.000 đồng/tấn; đối với các loại quặng khoáng sản kim loại khác (trong đó có quặng khoáng sản vàng) là 10.000 đồng/tấn.
Một số địa phương (như Quảng Nam, Lào Cai) cho rằng mức thu phí như vậy là không hợp lý, vì khai thác quặng vàng có khả năng gây ô nhiễm và độc hại cao, trong khi áp dụng mức thu như nêu trên là quá thấp.
Về vấn đề này, quan điểm của Bộ Tài chính là trong hoạt động khai thác quặng vàng có khả năng gây ô nhiễm và độc hại cao hơn các loại quặng khoáng sản khác. Theo các tài liệu, ở Việt Nam hiện có khoảng 500 mỏ và điểm quặng sa khoáng vàng, trong đó có khoảng 30 mỏ, điểm quặng đã được khai thác. Hàm lượng vàng trong các mỏ, điểm quặng thường thấp. Các điểm được khai thác với các hình thức khác nhau, chủ yếu theo hình thức thủ công nên gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường các lòng sông, suối.
Tuy nhiên, với mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác quặng vàng như hiện nay là 10.000 đồng/tấn quặng là quá thấp và không đủ trang trải chi phí cho việc khắc phục hậu quả môi trường. Đồng thời, mức phí này chưa thể hiện sự công bằng, hợp lý so với mức thu các loại khoáng sản kim loại khác.
So sánh với giá vàng hiện nay khoảng 35-36 triệu đồng/lượng, tương đương khoảng 900.000 đồng/gam vàng thì mức thu phí trên chỉ chiếm khoảng 1,5-2% giá vàng thành phẩm và thấp hơn nhiều so với tỷ lệ phí bảo vệ môi trường/giá bán của các loại khoáng sản khác như sắt là 7,5%; chì là 22,5%.
Để giải quyết sự bất hợp lý nêu trên, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định việc điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản vàng lên mức tương đương với một số loại khoáng sản như sắt, cromit là 40.000 đồng/tấn. Theo Bộ Tài chính, mức thu phí này chiếm khoảng 8%-9% giá vàng thành phẩm hiện nay.
Theo quy định tại Nghị định 63/CP, đơn vị tính thu phí bảo vệ môi trường đối với các loại đá khác là đồng/m3. Trong thực tế, khối lượng đá sau khi khai thác thường được tính bằng tấn. Do đó, việc quy đổi từ tấn sang m3 đối với đá làm xi măng khi tính phí bảo vệ môi trường là khác nhau dẫn đến mức thu phí tại mỗi địa phương cũng khác nhau.
Từ những bất cập trên, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị: “Sửa đổi đơn vị tính thu phí bảo vệ môi trường đối với đá làm xi măng, khoáng sản chất công nghiệp... quy định tại điểm d, Điều 4 Nghị định 63/CP của Chính phủ là đồng/tấn thay cho đơn vị tính đồng/m3”. Dự thảo tờ trình Chính phủ về việc ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định 63 của Bộ Tài chính kiến nghị sửa đổi đơn vị tính phí bảo vệ môi trường đối với đá làm xi măng là đồng/tấn thay cho đơn vị tính là đồng/m.
Đối với quy định thu phí bảo vệ môi trường đối với trường hợp khai thác khoáng sản tận thu, Nghị định số 63/CP và Nghị định số 82/CP chưa có quy định mức thu và cách tính số tiền phí phải nộp đối với khoáng sản tận thu. Trong thời gian qua, đã có một số địa phương đề nghị hướng dẫn về vấn đề thu phí bảo vệ môi trường đối với khoáng sản tận thu.
Để có cơ sở pháp lý khi hướng dẫn, quan điểm của Bộ Tài chính là phải bổ sung quy định rõ đối với trường hợp khai thác khoáng sản tận thu cũng phải nộp phí bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, cơ quan này cũng đề xuất bổ sung quy định mức thu do trượt giá từ năm 2008 đến năm 2010, theo đó điều chỉnh tăng mức thu một số loại khoáng sản.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Chính phủ ủng hộ mạnh mẽ việc phân cấp, phân quyền cho các đại học quốc gia; đồng thời yêu cầu xây dựng cơ chế đầu tư đặc thù, vượt trội, thúc đẩy đào tạo nhân tài, làm chủ công nghệ chiến lược và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới mạnh mẽ việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực xã hội để phát triển kinh tế thể thao, tạo thêm giá trị, việc làm và đóng góp cho tăng trưởng; đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý và khai thác các thiết chế thể thao.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, nhằm tăng cường chỉ đạo, điều phối và xử lý các vấn đề liên ngành trong quá trình triển khai Chương trình.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, bảo đảm cung ứng điện là vấn đề cấp bách và điều kiện tiên quyết để hoàn thành các mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2026. Đây chính là nền tảng quan trọng để năm 2027 tăng tốc, bứt phá và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.