
Ngân hàng Nhà nước đang tích cực xử lý những trường hợp mua bán ngoại tệ vượt tỷ giá quy định cả đối với các tổ chức tín dụng và trên thị trường tự do. Những điểm thu đổi ngoại tệ nếu sai phạm sẽ bị rút giấy phép. Những ngân hàng mua bán ngoại tệ với doanh nghiệp mà tính thêm phí, dù là dưới hình thức nào, cũng sẽ bị xử lý nghiêm khắc.
Trên giấy tờ, hợp đồng giữa ngân hàng và doanh nghiệp, mọi giao dịch ngoại tệ đều nằm trong biên độ, tỷ giá cho phép. Nhưng thực tế thì sao?
Doanh nghiệp X muốn mua ngoại tệ ở ngân hàng Y để thanh toán lô hàng nhập khẩu đến hạn. Ngân hàng không có hoặc chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đành phải mua Đô la trên thị trường tự do và mang số ngoại tệ đó bán lại cho ngân hàng với giá niêm yết. Sau đó ngân hàng bán lại ngoại tệ ấy cho doanh nghiệp cũng với giá niêm yết để thanh toán hàng nhập.
Trên sổ sách, ngân hàng và doanh nghiệp đều không thu và nộp bất cứ khoản phí nào, nhưng tỷ giá thực mà doanh nghiệp phải trả, rõ ràng, cao hơn tỷ giá niêm yết.
Tình trạng tương tự cũng đang diễn ra trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Tỷ giá tiền đồng/Đô la Mỹ thực mà các ngân hàng giao dịch với nhau cao hơn 3-3,5% so với tỷ giá trần công bố bởi Ngân hàng Nhà nước dù trên giấy trắng mực đen, mọi số liệu liên quan đến tỷ giá đều đúng quy định. Để hợp pháp hóa, thường hai ngân hàng mua bán Đô la Mỹ với nhau thông qua một ngân hàng thứ ba và thông qua một đồng tiền thứ ba.
Vì Ngân hàng Nhà nước không ấn định tỷ giá tiền đồng với các ngoại tệ khác, như Đô la Úc, Đô la Canada, Euro, Yên Nhật... nên ngân hàng thứ ba có thể mua bán Đô la Mỹ, tiền đồng với ngân hàng thứ nhất và thứ hai thông qua một đồng tiền khác với bất cứ tỷ giá nào họ muốn. Ngân hàng Nhà nước hiện chỉ cấm hai bên (ngân hàng với ngân hàng hoặc ngân hàng với doanh nghiệp) mua bán Đô la Mỹ - tiền đồng thông qua một ngoại tệ thứ ba. Sự xuất hiện của một ngân hàng thứ ba trong một giao dịch ngoại tệ lại không nằm trong sự cấm đoán.
Ngân hàng Nhà nước vẫn khẳng định cung cầu ngoại tệ không căng thẳng và có đủ lực để can thiệp khi cần thiết. Tuy nhiên, sự tồn tại của hai mặt bằng tỷ giá, một chính thức và một không chính thức, chưa bao giờ biến mất trong những năm qua.
Giải quyết việc cộng thêm phí giao dịch vào tỷ giá từ phía Ngân hàng Nhà nước giống như việc chặt đi một số ngọn của cái cây. Chặt ngọn này, ngọn khác lại mọc, bởi việc chặt ấy chưa đủ mạnh, chưa thể cắt đi cội rễ của cái cây là nhu cầu ngoại tệ tăng lên, trong khi nguồn cung bị kìm hãm ở đâu đó, chẳng hạn trên tài khoản ngoại tệ của nhà xuất khẩu.
Dòng cầu vẫn chảy mà dòng cung thì không lưu thông, còn Ngân hàng Nhà nước ở vai trò người mua và bán cuối cùng, điều tiết nguồn nước, lại lâu lâu mới thấy xuất hiện. Cứ hôm nào Ngân hàng Nhà nước bán ra, hoặc có thông tin chuẩn bị bán ra ngoại tệ, thì tỷ giá giao dịch thực trên thị trường liên ngân hàng mới giảm xuống. Sự bán ra nhỏ giọt ấy đôi khi chỉ làm mặt nước nguồn cung xao động nhẹ.
Sự cứng nhắc của tỷ giá chính thức trong biên độ dao động hẹp đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến sự ổn định của thị trường tiền tệ. Các nhà đầu tư nước ngoài đang quay lưng với trái phiếu chính phủ, họ thậm chí còn bán ròng chừng 500 tỉ đồng trái phiếu trong hai tuần đầu tháng 7/2009.
Lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam đang ở mức 8,5-9,5%/năm tùy kỳ hạn, cao hơn so với lãi suất trái phiếu các nước lân cận. Nhưng nhà đầu tư nước ngoài không mua không phải vì lợi tức trái phiếu Việt Nam không hấp dẫn, mà vì họ sợ mua rồi, khi bán đi thu hồi vốn, liệu họ có mua được ngoại tệ trở lại để chuyển vốn ra.
Trái phiếu vào dễ, ra khó vì tỷ giá, chứ không phải vì lợi tức thấp. Kênh phát hành trái phiếu đang tắc và gây tác động đến mặt bằng lãi suất tiền đồng. Lợi tức trái phiếu sẽ buộc phải tăng đến một mức nào đó đủ bù đắp rủi ro tỷ giá thì nhà đầu tư ngoại mới đổ vốn vào, khơi mào sự quay lại của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Tỷ giá đang là nút thắt của thị trường tiền tệ!
Hải Lý
(TBKTSG)




Sau 40 năm dấn thân trên thương trường kể từ khi đất nước mở cửa, thế hệ doanh nhân đầu tiên của Việt Nam hiện đứng trước một phép thử mới: gìn giữ và chuyển giao cơ nghiệp cho thế hệ kế tiếp. Giữa lúc một bộ phận giàu có đang loay hoay duy trì sự thịnh vượng mà họ đã tạo nên thì thị trường xuất hiện một cách tiếp cận mới, đó là quản lý gia sản theo hệ thống quản trị chuyên nghiệp...
Ngân hàng Nhà nước sẽ siết chặt tiêu chuẩn xác thực sinh trắc học nhằm ngăn chặn hành vi giả mạo bằng trí tuệ nhân tạo (deepfake), đồng thời bổ sung cơ chế trì hoãn giao dịch tối thiểu 24 giờ để phòng chống lừa đảo. Các quy định mới dự kiến có hiệu lực trong năm 2027, hướng tới tăng cường an toàn giao dịch và bảo vệ người sử dụng dịch vụ thanh toán…
Lãi suất cho vay nhà ở xã hội hiện ở mức 6,5%/năm đối với người mua nhà và 7%/năm đối với chủ đầu tư. Thời gian hưởng lãi suất ưu đãi lần lượt là 5 năm và 3 năm...
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà khẳng định, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại sẽ tập trung đẩy mạnh các chương trình tín dụng, nhất là tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các tế bào thực tăng trưởng của nền kinh tế và hướng tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thời gian tới VAMC sẽ tập trung vào ba chuyển đổi lớn: từ xử lý từng khoản nợ sang góp phần kiến tạo thị trường mua bán nợ; từ Sàn giao dịch chủ yếu cung cấp thông tin sang hạ tầng kết nối và tổ chức giao dịch của thị trường; từ quản lý theo hồ sơ, nghiệp vụ riêng lẻ sang quản trị, phân tích và ra quyết định dựa trên dữ liệu...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.