
Vài năm gần đây thị trường điện thoại di động Việt Nam ồ ạt xuất hiện các nhãn hiệu điện thoại mới lạ như Mobell, Q-Mobile, ConnSpeed, Bavapen, F-Mobile, MobiStar...
Trong đó, nhiều nhãn hiệu Việt của doanh nghiệp Việt nhưng lại xuất xứ từ “dế” Trung Quốc.
Với vô số linh kiện siêu rẻ được sản xuất từ các công ty Trung Quốc, việc sản xuất điện thoại di động hiện nay khá dễ dàng khiến nhiều doanh nghiệp trong nước đổ xô đi làm điện thoại di động.
Nở rộ thương hiệu Việt
Trong những nhãn hiệu kể trên, ConnSpeed được Công ty Á Mỹ giới thiệu vào cuối năm 2007. Máy tập trung vào những tính năng phổ biến như nghe nhạc, chụp hình, kết nối Bluetooth, hai sim, hai sóng... Giá bán nhắm vào người dùng bình dân với mức 1-3 triệu đồng.
Q-Mobile là thương hiệu của Công ty ABTel. Q-Mobile được công bố là sự kết hợp linh kiện từ nhiều công ty tại Đài Loan, Trung Quốc đại lục, Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhãn hiệu Bavapen thuộc Công ty Thành Công Mobile.
Gần đây nhất là sự xuất hiện nhãn hiệu MobiStar của P&T Mobile vào đầu tháng 5 và F-Mobile của FPT vào đầu tháng 6 vừa qua. Các sản phẩm đầu tiên của hai thương hiệu này đều nhắm vào người dùng bình dân với mức giá dưới 2 triệu đồng.
Đặc điểm chung của các điện thoại di động thương hiệu Việt này là có khá nhiều tính năng giải trí phổ biến: nghe nhạc, xem video, chụp ảnh, kết nối Bluetooth... Một số được trang bị thêm những tính năng cạnh tranh cao hơn như: cảm ứng, hai sim, hai sóng, xem tivi. Mẫu mã thiết kế khá đa dạng nhưng cũng có nhiều sản phẩm khá giống nhau dù khác thương hiệu. Giá bán thuộc vào loại siêu rẻ với mức giá chủ yếu thấp hơn 2 triệu đồng.
Ông Lê Văn Sử, giám đốc kinh doanh điện thoại F-Mobile, cho biết: “Chúng tôi nhắm đến người dùng có thu nhập trung bình, học sinh, sinh viên, công nhân, nhân viên văn phòng và người sử dụng máy thứ hai”.
Chủ yếu là "made in China"
Qua tìm hiểu, hiện vẫn chưa có sản phẩm điện thoại di động thương hiệu Việt nào sản xuất theo đúng quy trình để dán nhãn “made in Vietnam”.
Đại diện một doanh nghiệp lý giải rằng để sản xuất điện thoại di động cần phải đầu tư dây chuyền sản xuất với nguồn vốn lớn. Ngay cả khi có dây chuyền mà không sản xuất số lượng lớn liên tục thì chi phí sẽ bị đẩy lên rất cao, dẫn đến giá thành sản phẩm cao và không thể cạnh tranh được. Trong khi đó Trung Quốc có rất nhiều nhà máy gia công có thể sản xuất số lượng linh kiện lớn với giá rẻ.
Do vậy, doanh nghiệp đặt hàng tại các nhà máy sản xuất này sẽ giảm được chi phí sản xuất khá lớn. Một số doanh nghiệp cũng muốn mở nhà xưởng lắp ráp ở Việt Nam, nhưng vì thuế nhập linh kiện lại cao hơn thuế nhập khẩu nguyên chiếc nên khó cạnh tranh nổi với các hãng lớn khác.
Theo ông Lê Quang Vu - Phó tổng giám đốc Công ty Viễn Thông A, hầu hết điện thoại di động nhãn hiệu Việt đều có xuất xứ từ Thâm Quyến, Quảng Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), nơi có rất nhiều nhà sản xuất OEM (Original Equipment Manufacturer - có thể hiểu là sản xuất sản phẩm thô). Doanh nghiệp chỉ việc chọn mẫu mã thiết kế có sẵn, mua lại các linh kiện hoặc mua luôn các sản phẩm thô này và đặt nhà sản xuất in nhãn mác, thương hiệu của mình lên đó rồi nhập về nước để bán ra thị trường.
Việc đặt hàng như vậy khiến các doanh nghiệp không thể can thiệp bất cứ điều gì về sản phẩm từ tính năng, kiểu dáng đến chất lượng. Nhiều thương hiệu điện thoại di động từng có những sản phẩm giống hệt nhau cũng từ lý do này. “Chẳng hạn hôm nay có một dòng điện thoại của B bán được thì đúng một tuần sau xuất hiện sản phẩm tương tự nhưng với tên W”.
Việc đặt hàng OEM cũng có nhiều cấp độ khác nhau. Các hãng lớn như Nokia, Sony-Ericsson... cũng làm tương tự nhưng cấp độ lựa chọn linh kiện rất cao. Còn hình thức được nhiều doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn là cấp độ thấp nhất, tức lựa chọn linh kiện có sẵn rồi gắn thương hiệu mình vào (nếu chọn cấp độ cao hơn sẽ đẩy giá thành sản phẩm lên cao).
Nói đúng hơn đây là điện thoại của Trung Quốc (người dùng hay gọi là “điện thoại tàu” hay “dế tàu”) gắn thương hiệu Việt Nam.
Những dự án “đắp mền”
Thật ra những sản phẩm và dự án sản xuất điện thoại di động thương hiệu Việt đã có từ khá lâu nhưng đều thất bại.
Ngay từ năm 2003, một thương hiệu điện thoại di động của Việt Nam đã xuất hiện với tên gọi V-Fone nhưng nhanh chóng bị chìm vào quên lãng. Năm 2004, Công ty VinaMobi ra đời với hi vọng sản xuất những chiếc điện thoại “made in Vietnam” đầu tiên. Nhưng đến bây giờ hi vọng đó vẫn chỉ nằm trên giấy dù đã tốn khá nhiều tiền của và công sức của những người làm.
Đến năm 2005, Công ty Cổ phần Thiết bị bưu điện Postef (trực thuộc VNPT) tiếp tục công bố kế hoạch sản xuất điện thoại di động. Hi vọng lại được thắp lên khi Postef tuyên bố sẽ sản xuất điện thoại giá rẻ chưa đến 20 USD. Công ty dự tính lô hàng đầu tiên sẽ ra mắt thị trường vào năm 2006 nhưng mãi đến giờ vẫn chưa thấy đâu.
Nam Hưng - Đức Thiện
(Tuổi Trẻ)




Một bộ phận người dân Mỹ vốn từ lâu đã cho rằng việc tuyển dụng lao động nước ngoài và tiếp nhận sinh viên quốc tế làm giảm cơ hội việc làm, gây bất lợi cho sinh viên và người lao động nước này...
Thông qua sáng kiến AI Riser 2026, Google đang mở rộng khả năng tiếp cận và ứng dụng AI tại Việt Nam, không chỉ dành cho lập trình viên chuyên nghiệp mà còn hướng tới sinh viên, nhà giáo dục, nhà sáng tạo và hộ kinh doanh nhỏ, với 750 dự án được phát triển...
Trung Quốc đang dẫn đầu về nghiên cứu trong gần 90% công nghệ được Viện Chính sách Chiến lược Úc theo dõi để phân tích năng lực nghiên cứu của Trung Quốc và Mỹ...
Tuy chiếm 25% tổng số người mua sắm trực tuyến nhưng nhóm người tiêu dùng thông thái chi tiêu hàng tháng cao hơn 44% so với nhóm người mua sắm phổ thông, tạo ra khoảng cách chi tiêu khoảng 2,2 tỷ USD mỗi năm, đồng thời đóng góp gần 1/3 tổng chi tiêu trên thương mại điện tử tại Việt Nam…
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ không gian số sang môi trường vật lý. Thay vì chỉ giới hạn trong việc xử lý dữ liệu, hình ảnh hay ngôn ngữ trên không gian mạng, AI giờ đây đang được “hiện thân” vào các robot, thiết bị tự hành và các dây chuyền sản xuất thông minh...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.