
Ngân hàng Nhà nước vừa cập nhật dữ liệu cơ bản về tình hình hoạt động của hệ thống, với sự áp đảo của khối ngân hàng thương mại Nhà nước dù quy mô vốn thấp hơn.
Hệ thống thống kê này phân nhóm khối ngân hàng thương mại Nhà nước gồm Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Công thương (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và phát triển (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank), cùng ba ngân hàng thương mại mà Ngân hàng Nhà nước đã mua lại bắt buộc với giá 0 đồng.
Tuy nhiên, do vấn đề tài chính nên những ngân hàng có vốn tự có âm không tính vào một số chỉ tiêu thống kê.
Vốn thấp, tài sản cao
Xét về quy mô năng lực tài chính, tổng quy mô vốn tự có của khối ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn khối ngân hàng thương mại cổ phần, 218.362 tỷ đồng so với 249.213 tỷ đồng. Tương tự, tổng quy mô vốn điều lệ cũng thấp hơn, 141.693 tỷ đồng so với 197.280 tỷ đồng.
Trong so sánh trên, khó khăn nổi bật của khối ngân hàng thương mại Nhà nước thể hiện rõ: tốc độ tăng vốn điều lệ trong 9 tháng đầu năm gần như không đáng kể, chỉ 0,07% so với cuối 2015. Đây là một phần từ kết quả của kế hoạch tăng vốn thất bại của các thành viên, tính đến thời điểm này, do ngân sách Nhà nước không nhượng bộ về cổ tức, do không phát hành thành công…
Còn khối ngân hàng thương mại cổ phần, tốc độ tăng quy mô vốn điều lệ 9 tháng đầu năm nay cao hơn với 1,7%.
Dù quy mô vốn thấp hơn như trên, nhưng khối ngân hàng thương mại Nhà nước lại đang có quy mô tổng tài sản áp đảo, vượt khá xa khối cổ phần. Đây cũng là chỉ tiêu phản ánh sự chi phối thị phần của họ trên thị trường.
Cụ thể, tính đến 30/9/2016, tổng tài sản của khối ngân hàng thương mại Nhà nước đã đạt 3.690.463 tỷ đồng, chiếm 45,6% toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; còn khối cổ phần chỉ chiếm 39,5% với 3.198.341 tỷ đồng.
Đáng chú ý, những bước chân áp đảo về mở rộng tài sản của khối ngân hàng thương mại Nhà nước vẫn thể hiện rõ ở tốc độ tăng trưởng, tới 11,7% trong 9 tháng đầu năm nay; còn khối cổ phần tăng trưởng thấp hơn với 9,23%.
Khối ngân hàng thương mại Nhà nước có quy mô vốn thấp hơn, những mở rộng khối lượng tài sản lớn hơn với tốc độ nhanh hơn. Như trên, điểm này một phần phản ánh mức độ thị phần, nhưng cũng phản ánh nhất định lợi thế giá trị niềm tin, thương hiệu “ngân hàng của Nhà nước” trong bối cảnh thị trường bộc lộ những rủi ro nổi bật những năm gần đây và cho đến câu chuyện cho thí điểm phá sản ngân hàng nêu lên gần đây.
Mặt khác, khối ngân hàng thương mại Nhà nước do yếu tố gắn sâu trong quá khứ và kéo dài đến đặc thù sở hữu hiện tại, nên có nhiều lợi thế trong nền tảng khách hàng (đặc biệt là khách hàng lớn với mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ lớn), cũng như có lợi thế trong chi phí vốn và cạnh tranh cho vay…
Những lợi thế đặc thù đó cũng góp phần giải thích (trong nhiều nguyên do khác) về hiệu quả kinh doanh của khối ngân hàng thương mại Nhà nước luôn vượt trội khối ngân hàng thương mại cổ phần những năm gần đây, xét về tổng thể khối (xét riêng lẻ, có những ngân hàng cổ phần hiệu quả hơn).
Dữ liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước chưa cập nhật đến kỳ 30/9/2016, nhưng tại các kỳ liền trước, các chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh như ROA, ROE của khối ngân hàng thương mại Nhà nước thường cao khoảng gấp đôi so với khối cổ phần.
Bên cạnh những ưu/lợi thế trên, một tham khảo khác cũng góp phần giải thích cho so sánh về hiệu quả đó. Khối ngân hàng thương mại Nhà nước đã đẩy cao mức độ sử dụng vốn, hơn hẳn khối cổ phần. Tính đến tháng 9/2016, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động của họ lên tới 92,89%, trong khi khối cổ phần thấp hơn nhiều với 78,70%.
Khó khăn sẽ níu chân
Tuy nhiên, sự áp đảo của khối ngân hàng thương mại Nhà nước nói trên có thể sẽ khác dần từ năm tới. Nguyên do, họ đang gặp những khó khăn kỹ thuật, bị níu chân mà không dễ khắc phục.
Như trên, tốc độ tăng vốn điều lệ của khối này chỉ nhích được 0,07% trong 9 tháng đầu năm nay đã phản ánh một khó khăn nổi bật. Các kế hoạch tăng vốn năm nay đang có nguy cơ phá sản khi 2016 sắp trôi qua. Nguyên do vẫn là câu chuyện cổ tức và ngân sách Nhà nước không nhượng bộ, kế hoạch phát hành thêm bất thành…
Điều đó dẫn đến thực tế so sánh bất lợi khác: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của khối ngân hàng thương mại Nhà nước đến tháng 9/2016 chỉ nhích trên mức quy định với 9,48%, trong khi khối ngân hàng thương mại cổ phần cao hơn với 12,1%.
CAR thấp phản ánh mức độ sử dụng vốn cao, và ngược lại. Nhưng, CAR thấp cũng phản ánh triển vọng đẩy mạnh sử dụng vốn trong tương lại sẽ hạn chế. Ở so sánh này, khối ngân hàng thương mại cổ phần đang có lợi thế hơn.
Khó khăn kỹ thuật của khối ngân hàng thương mại Nhà nước càng rõ ràng hơn, như bài viết VnEconomy đề cập mới đây, tại nghị quyết về kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm tới, Quốc hội đã thông qua một chủ trương có ảnh hưởng lớn tới khối ngân hàng này, là “không sử dụng ngân sách Nhà nước để cấp vốn điều lệ cho tổ chức tín dụng thương mại”.
Với chủ trương trên, kế hoạch tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại Nhà nước chắc chắn sẽ khó khăn hơn trong 5 năm tới, sau khi đang sắp bất thành trong năm nay.
Theo đó, xu hướng áp đảo hiện nay của
khối ngân hàng thương mại Nhà nước
so với khối ngân hàng thương mại cổ phần sẽ dần khác đi, thu hẹp lại, khi không thể tiếp tục
“
tăng cân
”
nhanh trên một đôi chân kỹ thuật khó gia cố tương ứng.
Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 16/2014/TT-NHNN, trong đó đề xuất bổ sung cơ chế sử dụng tài khoản đồng Việt Nam của các tổ chức nước ngoài cung ứng dịch vụ chuyển tiền quốc tế và trung gian thanh toán để thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ trong thanh toán xuyên biên giới…
Lần đầu tiên kể từ tháng 3/2026, giá bán USD tại nhiều ngân hàng thương mại đã rời mức kịch trần do Ngân hàng Nhà nước quy định. Khảo sát 17 ngân hàng ngày 13/7 cho thấy chỉ còn 4 ngân hàng duy trì giá bán USD ở mức 26.481 đồng/USD, trong khi 13 ngân hàng còn lại đã hạ giá bán xuống thấp hơn từ 1 - 41 đồng/USD...
Sau cú sốc năng lượng, hiệu ứng lạm phát vòng hai đang dần bộc lộ khi chi phí đầu vào lan sang điện, nhà ở và nhiều dịch vụ thiết yếu. Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng theo mùa và việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công có thể tiếp tục làm gia tăng sức ép lên mặt bằng giá trong nửa cuối năm 2026, khiến bài toán kiểm soát lạm phát trở nên thách thức hơn...
Trong tuần từ 06 - 10/07, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh trên hầu hết các kỳ hạn sau khi tăng lên mức cao vào đầu tuần, phản ánh thanh khoản hệ thống được cải thiện rõ rệt…
Mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm 2026 sẽ tạo áp lực lớn hơn đối với nhóm khách hàng vay vốn theo lãi suất thả nổi, đặc biệt là các doanh nghiệp và cá nhân có năng lực tài chính yếu. Điều này làm gia tăng nguy cơ phát sinh nợ xấu mới, khiến áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng có thể quay trở lại từ quý II/2026…
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Trong bối cảnh giá xăng dầu đã được điều chỉnh giảm nhưng các mặt hàng, dịch vụ khác vẫn neo ở mức cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân, Lãnh đạo Bộ Công thương khẳng định đã chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường ở trung ương và địa phương vào cuộc, rà soát lại toàn bộ các hành vi vi phạm liên quan đến thực hiện pháp luật về giá.