Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số lao động hàng năm hết hạn về nước khoảng 100 nghìn người, nhưng chỉ có 20% trong số đó sau khi về có việc làm ổn định.
Ý thức của người lao động
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, một cán bộ của Cục Quản lý lao động ngoài nước nhận định, trong đó, theo ông ý thức của người lao động vẫn là điều đáng nói.
Thực tế cho thấy, nhiều lao động sau khi đi làm việc ở nước ngoài trở về không có ý định tìm việc tại các doanh nghiệp trong nước. Nhiều người trong số đó có ý định quay trở lại nước mà mình đã đi lao động trở về (ngay cả bằng con đường bất hợp pháp), hoặc là một nước khác.
Cũng không ít người “tự mãn” với số tiền kiếm được trong thời gian đi xuất khẩu lao động và cho phép mình “xả hơi” với số tiền đó.
Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, năm 2007, toàn tỉnh đã đưa được 13.469 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Nguồn thu nhập do xuất khẩu lao động chuyển về tỉnh qua các ngân hàng thương mại năm 2007 khoảng 90 triệu USD tăng 38% so với năm 2006.
Với nhiều tỉnh như Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, nguồn thu từ xuất khẩu lao động cũng không hề nhỏ khi công tác này đã trở thành phong trào. Tuy nhiên, không biết có bao nhiêu phần trăm trong tổng số tiền này được sử dụng có hiệu quả.
Nhiều địa phương đã đưa ra định hướng sử dụng nguồn vốn từ xuất khẩu lao động để kinh doanh nhưng không mấy ai mặn mà, đầu tư cho việc học nghề thì tuyệt nhiên không. Như vậy, với số tiền có được, hoặc là họ sẽ xây nhà, mua xe, trả nợ, hoặc là dùng để chi tiêu hàng ngày.
“Miệng ăn, núi lở” chứ nói gì đến vài trăm triệu đồng. Cuối cùng, trước lúc đi xuất khẩu lao động thì thất nghiệp, sau khi đi xuất khẩu trở về lại tái thất nghiệp”, một cán bộ xã bức xúc.
Nhà nước thiếu chính sách
Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, Việt Nam đang thiếu trầm trọng lao động tay nghề cao. Thậm chí, nhiều chuyên gia còn đưa ra cảnh báo: “Trong vòng 8 đến 10 năm tới, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ nhập khẩu lao động tay nghề cao từ các nước bạn”.
Và theo một số ý kiến, hiện Nhà nước nói nhiều đến việc tăng tốc đào tạo, hướng nghiệp cho lao động trong nước, mà chưa có chính sách khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi xuất khẩu lao động trở về. Trong khi đó, lao động đã từng đi xuất khẩu là một nguồn nhân lực có bề dày cả về tay nghề lẫn kinh nghiệm.
Ông Nguyễn Quốc Khánh, cán bộ Cục Quản lý lao động ngoài nước cho rằng, với hoạt động xuất khẩu lao động, ngoài việc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, đây còn là cơ hội để lao động Việt Nam có thể học hỏi, là công cụ để chuyển giao công nghệ tiên tiến nước ngoài, thông qua đó đào tạo một đội ngũ lao động có chất lượng cao về chuyên môn, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp.
Trao đổi vấn đề này với VnEconomy, ông Đặng Khiêu, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thái Bình cho biết, chủ trương giải quyết việc làm cho lao động đi xuất khẩu về nước là có, nhưng địa phương vẫn gặp nhiều khó khăn trong khâu thực hiện.
Cụ thể, sở lao động tỉnh không thể nắm rõ con số lao động về nước hàng năm, cũng chưa có chính sách cụ thể trong việc định hướng nghề nghiệp cho lao động sau khi về nước. “Hiện, chúng tôi chỉ có thể dừng lại ở khâu định hướng, tuyên truyền, còn để làm gì để đầu tư hiệu quả số tiền đi xuất khẩu có được, tránh tình trạng tái thất nghiệp, phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức của người lao động”, ông Khiêu nói.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam lại đánh giá rất cao nguồn lao động đã từng làm việc ở nước ngoài.
Ông Chang Hee Lee, chuyên gia về quan hệ lao động và đối ngoại xã hội của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng, lao động Việt Nam đã được đánh giá tốt trong thời gian làm việc tại nước ngoài, đặc biệt là ở Hàn Quốc. Nếu xét về tính cạnh tranh, đây là nguồn lao động tạo ra tính cạnh tranh cao hơn lao động đã qua đào tạo nghề trong nước.
Cũng theo ông Lee, nếu có chính sách khai thác hợp lý, tạo ra những kênh kết nối giữa lao động và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng, nguồn lao động này sẽ góp phần điều hoà nguồn lực chất lượng theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá và hội nhập lao động quốc tế.
Bộ Nội vụ đang đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 34/2025/QĐ-TTg về Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước. Trọng tâm là việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ đề nghị hỗ trợ tại Quỹ nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động và doanh nghiệp...
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành sẽ gặp gỡ, lắng nghe nguyện vọng của thanh niên tại Chương trình Thủ tướng Chính phủ đối thoại với thanh niên năm 2026…
Trong bối cảnh Hà Tĩnh đang đẩy mạnh thu hút đầu tư, việc nâng cao chất lượng nhân lực được xác định là một trong những yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất và khai thác hiệu quả tiềm năng các khu kinh tế, khu công nghiệp.
Thời gian làm việc, chi phí, khoảng cách và hạn chế thông tin đang tạo ra những rào cản trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của lao động nữ di cư. Các bên đang phối hợp để đưa thông tin, tư vấn và dịch vụ y tế đến gần hơn với nhóm lao động này…
Dữ liệu lao động, việc làm quý 3/2026 vừa được Cục Thống kê công bố mới đây, cho thấy thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng lên đáng kể, đặc biệt ở các lĩnh vực xây dựng, dịch vụ…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.