
Sáng 7/1, khối nghiên cứu của Ngân hàng HSBC Việt Nam công bố bản phân tích nhanh về quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước.
Cuối chiều qua (6/1), Ngân hàng Nhà nước quyết định giảm giá tiền đồng thêm 1%, bằng cách nâng tỷ giá tham chiếu hàng ngày USD/VND từ mức 21.246 lên 21.458 VND.
“Mặc dù chúng tôi dự đoán tiền đồng sẽ giảm giá trong năm nay, động thái này đã diễn ra sớm hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh đô la Mỹ đang mạnh hơn so với hầu hết các loại tiền tệ ở những thị trường mới nổi vào đầu năm 2015 và tỷ giá USD/VND thường đóng cửa giao dịch ở mức chạm trần trong vài tuần qua thì động thái này không gây quá nhiều ngạc nhiên”, HSBC bình luận.
Cùng đó, khối nghiên cứu này tính toán, khả năng giảm giá tiền đồng sâu hơn nữa là khá nhẹ khi những yếu tố cơ bản không suy giảm hơn. Và HSBC cho rằng tỷ giá USD/VND sẽ chỉ còn tăng thêm 1% nữa trong năm nay, đạt mức 21.750, trong bối cảnh đô la Mỹ tiếp tục mạnh hơn trong năm nay.
Phân tích cụ thể hơn, HSBC nhìn lại, tỷ giá USD/VND đã được giao dịch gần mức trần cho phép xuyên suốt tháng 12 vừa qua, phù hợp với việc đô la Mỹ mạnh hơn rất nhiều trong vài tháng qua.
HSBC cũng nhìn nhận, trong những tuần gần đây không hề có sự suy giảm các yếu tố cơ bản nào khiến Ngân hàng Nhà nước phải giảm giá tiền đồng. Mặc dù cán cân thương mại đã nghiêng sang mức thâm hụt 900 triệu USD trong tháng vừa qua (kết quả là mức thặng dư đạt 2 tỷ USD trong năm), dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn còn mạnh, vốn FDI đăng ký đạt mức 2,3 tỷ USD trong tháng 12 (nguyên năm 2014 đạt 15,6 tỷ USD).
Thêm nữa, lạm phát tiếp tục thấp hơn ở Việt Nam, đẩy lãi suất thực về ngưỡng dương. Lãi suất tiền đồng liên ngân hàng đã thực sự tăng kể từ tháng 10/2014 cho thấy thanh khoản tiền đồng không quá khó khăn.
Do những yếu tố cơ bản vẫn còn hỗ trợ một cách tương đối, tình huống cơ bản là tiền đồng sẽ chỉ suy giảm nhẹ từ đây. Cùng với dòng vốn đã được cân bằng, lạm phát thấp hơn, và lãi suất thực cao hơn, chính sách ngoại hối cũng trở nên linh hoạt hơn trong khả năng của mình để quản lý các thời điểm có nhu cầu đô la Mỹ cao.
Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có thể sử dụng một lượng dự trữ ngoại hối trong thời gian vừa qua để cung cấp đô la Mỹ ra thị trường, nhưng vẫn là ở trong trạng thái tốt hơn xét về dự trữ ngoại hối so với một số thời điểm trước đây. Điều này theo HSBC, giúp đảm bảo không có một cú tăng đột biến về tỷ giá USD/VND trong những tháng sắp tới.
Đến ngày 23/7, lãi suất huy động trực tuyến bình quân của 36 ngân hàng đạt khoảng 6,16%/năm (kỳ hạn 6 tháng) và 6,39%/năm (kỳ hạn 12 tháng). So với cuối tháng 6/2026, chỉ có 2 ngân hàng tăng lãi suất…
Tỷ giá USD/VND chịu tác động bất lợi khi nhập siêu nới rộng và giá dầu Brent leo lên 96,2 USD/thùng, song thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn ở trạng thái thuận lợi có thể góp phần hạn chế biến động mạnh trên thị trường ngoại hối...
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Trong 6 tháng đầu năm 2026, lượng kiều hối chuyển về TP. Hồ Chí Minh đạt hơn 4 tỷ USD. Trong đó, riêng châu Á và châu Mỹ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp hơn 81% tổng lượng kiều hối…
Sau nhiều phiên đi ngang, giá USD tự do sáng 20/7 bật tăng 120 - 130 đồng, nới rộng khoảng cách với tỷ giá ngân hàng. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước giảm nhẹ tỷ giá trung tâm, còn phần lớn ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán thấp hơn tỷ giá trần. Trên thị trường thế giới, kỳ vọng Fed sớm hạ lãi suất gia tăng sau loạt số liệu lạm phát Mỹ hạ nhiệt...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.