Báo cáo về các giải pháp kiểm soát ô nhiễm không khí và cải thiện chất lượng môi trường nước các dòng sông trên địa bàn Hà Nội của UBND thành phố Hà Nội được gửi tới Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường như một hồi chuông cảnh báo về mức độ ô nhiễm không khí và ô nhiễm các dòng sông. Theo đánh giá của UBND thành phố Hà Nội, mức độ ô nhiễm đã đạt tới độ là điểm nghẽn phát triển của Thủ đô. Do đó, thành phố xác định kiểm soát ô nhiễm không khí và phục hồi các dòng sông là nhiệm vụ trọng tâm của phát triển bền vững.
Đối với không khí, báo cáo chỉ rõ Hà Nội chịu tác động đồng thời của nhiều nguồn phát thải. Theo số liệu kiểm kê nguồn thải Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện năm 2023- 2025, riêng trong Thành phố, giao thông đóng góp 59%, bụi đường và xây dựng 28%, đốt mở và dân sinh 11%, công nghiệp 2%, cùng với yếu tố thời tiết bất lợi theo mùa.
Vì vậy, Thành phố xác định kiểm soát ô nhiễm không khí theo chuỗi: nhận diện nguồn phát thải, đo lường, dự báo, can thiệp, đánh giá và công khai kết quả để Nhân dân cùng giám sát.
Để kiểm soát ô nhiễm không khí trên địa bàn, Thành phố nhấn mạnh 5 giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường không khí và nước thống nhất, tin cậy, thời gian thực. Dự kiến trong tháng 9/2026 sẽ hoàn thành kiểm kê khí thải cấp Thành phố, cập nhật thường xuyên làm cơ sở quản trị nguồn phát thải.
Thành phố đã phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư mạng quan trắc môi trường, gồm 15 trạm không khí; 05 trạm nước mặt; 06 trạm nước dưới đất. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai mạng cảm biến; tại Hà Nội đã lắp đặt, kết nối số liệu 35/71 thiết bị về Trung tâm dữ liệu môi trường quốc gia. Dữ liệu quan trắc, camera, giao thông, xây dựng, công nghiệp, khí tượng được tích hợp vào Trung tâm điều hành thông minh của Thành phố (IOC).
Thứ hai, triển khai vùng phát thải thấp trong Vành đai 1 theo nguyên tắc thận trọng, chắc chắn, có lộ trình. Theo Đề án, từ ngày 01/7/2026, Thành phố thí điểm tại phường Hoàn Kiếm và đến năm 2028 mở rộng toàn bộ Vành đai 1. Chính sách này vừa hạn chế phương tiện phát thải cao, vừa thúc đẩy vận tải công cộng xanh, xe buýt điện, xe đạp điện, phương tiện trung chuyển sạch, bãi đỗ xe ngoại vi, không gian đi bộ và hạ tầng cho phương tiện xanh.
Thứ ba, kiểm soát 100% công trường quy mô lớn và tuyến vận chuyển vật liệu. Hà Nội yêu cầu các công trường phải che chắn, rửa xe, phun sương, kiểm soát vật liệu, phế thải; công trình lớn lắp cảm biến, camera giám sát bụi…
Thứ tư, kiểm soát nguồn phát thải công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất và đốt ngoài trời. Thành phố đặt mục tiêu kiểm soát 100% cơ sở thuộc diện quan trắc khí thải tự động. HĐND Thành phố đã ban hành Nghị quyết quy định nghiêm ngặt hơn về đối tượng quan trắc khí thải tự động, liên tục...
Thứ năm, kiểm soát ô nhiễm không khí gắn với đổi mới mô hình đô thị: tăng cây xanh, quy hoạch lại không gian công cộng, di dời hoặc chuyển đổi công nghệ cơ sở sản xuất không phù hợp trong nội đô. Thành phố cũng phối hợp liên vùng với 5 địa phương lân cận, hình thành vùng phối hợp 6 tỉnh, thành phố, chia sẻ dữ liệu quan trắc, dự báo, nguồn phát thải lớn và thống nhất quy trình cảnh báo sớm, ứng phó ô nhiễm không khí.
Đối với môi trường nước, nhiều dòng sông nội đô và ven đô trong thời gian qua tiếp nhận nước thải sinh hoạt, sản xuất, làng nghề và dòng chảy ô nhiễm liên vùng.
Một trong những vấn đề cốt lõi được thành phố chỉ ra là do hệ thống thu gom, xử lý nước thải chưa đồng bộ; quản lý theo địa giới chưa theo kịp yêu cầu quản lý theo lưu vực; không gian hai bên sông chưa được tái thiết tương xứng.
Vì vậy, việc cải thiện chất lượng nước các dòng sông phải gắn với phục hồi hệ sinh thái đô thị, tái thiết không gian phát triển và nâng cao năng lực chống chịu của Thủ đô. Mục tiêu của Thành phố không chỉ làm sạch nước trong một thời điểm, mà là làm sống lại các dòng sông; bảo đảm dòng chảy, hệ sinh thái, không gian công cộng, cảnh quan, khả năng tiêu thoát nước, giá trị văn hóa và vai trò trong cấu trúc phát triển đô thị.
Hiện nay, thành phố đang phục hồi 4 sông nội đô: Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét. Theo dự kiến, trong tháng 7/2026, thành phố sẽ khởi công Dự án cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường sông Cầu Bây. Đồng thời, thành phố sẽ tiếp tục thẩm định, phê duyệt các dự án cải tạo, xử lý ô nhiễm sông Nhuệ, sông Đáy, phấn đấu khởi công vào giữa tháng 10/2026.
Để cải thiện chất lượng môi trường nước, phục hồi các dòng sông, Thành phố đưa ra 5 phương án.
Thứ nhất, tập trung thu gom và xử lý nước thải đồng bộ; đẩy nhanh các nhà máy xử lý nước thải theo quy hoạch.
Thứ hai, quản lý sông theo lưu vực, liên vùng, liên ngành; phân định rõ trách nhiệm từng cấp, ngành, địa phương;
Thứ ba, bảo đảm dòng chảy, bổ cập nước và cải tạo lòng dẫn; nghiên cứu đồng bộ nguồn bổ cập, nạo vét, xử lý bùn, kè bờ, kết nối hồ điều hòa, năng lực tiêu thoát nước và phòng chống ngập úng.
Thứ tư, kiểm soát nước thải công nghiệp, làng nghề và nguồn thải rủi ro cao bằng quan trắc tự động, thanh tra và trách nhiệm pháp lý rõ ràng. Dữ liệu quan trắc nước thải, khí thải phải truyền về cơ quan quản lý, vượt quy chuẩn phải cảnh báo, kiểm tra, xử lý ngay...
Thứ năm, thành phố cũng nhấn mạnh phương án tái thiết không gian hai bên sông; không chỉ xử lý ô nhiễm mà còn mở ra không gian phát triển, điểm nhấn du lịch mới: công viên tuyến tính, đường dạo, không gian văn hóa, mặt nước cảnh quan, dịch vụ đô thị, hạ tầng xanh và quỹ đất phát triển.
Xử lý ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước là vấn đề khó, tích tụ lâu dài, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và ý thức toàn xã hội. Bên cạnh đầu tư công, Thành phố tiếp tục hoàn thiện cơ chế thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), huy động nguồn lực xã hội phát triển hạ tầng môi trường, xử lý nước thải, kinh tế tuần hoàn và phục hồi các dòng sông.




Công nghiệp, xe điện, điều hòa không khí và trung tâm dữ liệu tiếp tục thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ trong việc sử dụng điện trên toàn thế giới...
Những tiến bộ trong dữ liệu khí hậu, mô hình dự báo và phương pháp phân tích đang giúp các nhà khoa học ngày càng xác định rõ mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các hiện tượng thời tiết cực đoan. Các kết quả này không chỉ nâng cao hiểu biết về rủi ro khí hậu mà còn cung cấp cơ sở quan trọng cho hoạch định chính sách, đầu tư hạ tầng và tăng cường khả năng thích ứng trước các thiên tai ngày càng khốc liệt…
Ngoài nguy cơ hạn hán, lũ lụt và bão, hiện tượng "siêu" El Nino còn có thể làm hư hại cơ sở hạ tầng, gây sức ép lên ngân sách và hệ thống ngân hàng của các nước nghèo...
Biện pháp này bổ sung cho khung kiểm soát rủi ro hiện hành, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu trong quá trình triển khai chính sách tiền tệ của ECB...
TP.Hồ Chí Minh đặt mục tiêu kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, cải thiện chất lượng nước tại các lưu vực sông, kênh, rạch và xây dựng hệ thống quan trắc đồng bộ, hướng tới quản lý môi trường nước bằng dữ liệu và công nghệ...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.