Những vùng núi non còn có nhiều ưu thế, không những về khí hậu ôn hòa mát mẻ, thiên nhiên trong lành, cảnh sắc độc đáo mà còn là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc giàu bản sắc. Những năm gần đây, nhờ xu hướng mô hình bất động sản nghỉ dưỡng núi đang tăng nhiệt, những quốc gia sở hữu các dãy núi đẹp sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh đặc biệt.
Báo cáo mới đây của nền tảng đặt vé máy bay Skyscanner cho biết có tới 80% du khách đang cân nhắc hoặc lên kế hoạch cho một kỳ nghỉ trên núi vào mùa hè và mùa thu năm 2026. Trang web này cũng cho biết các đặt phòng khách sạn sử dụng bộ lọc "phòng có tầm nhìn ra núi" từ đầu năm đến nay đã tăng 103% so với cùng kỳ năm trước.
Những du khách được khảo sát cho biết họ bị thu hút bởi những chuyến đi nghỉ trên núi vì sự yên bình và tĩnh lặng (62%), không khí trong lành và thời tiết mát mẻ hơn (60%), cũng như chỗ ở đẹp và hoang sơ (57%).
Còn theo nền tảng khám phá ngoài trời AllTrails, các tuyến đường mòn trên núi trên khắp thế giới đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể về hoạt động từ những du khách mùa hè vào năm 2025, bao gồm đường mòn sông băng Rob Roy ở New Zealand, đường mòn vòng rừng cọ Palm Jungle ở Úc và Laguna Cinco Hermanos.
Việt Nam là đất nước có núi chiếm tới ¾ diện tích. Việc hợp nhất một số địa phương chính là cơ hội để hình thành “cực tăng trưởng du lịch mới” với lợi thế tài nguyên đa dạng và liên vùng.
Điển hình, đèo Ô Quy Hồ (Lào Cai) và đèo Khau Phạ (Yên Bái cũ) được ví như “hành lang vàng” của dù lượn quốc tế, cung cấp không gian bay rộng lớn và cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp. Cùng với đó, hệ sinh thái phong phú mở ra tiềm năng lớn cho các loại hình thể thao mạo hiểm như trượt thác (canyoning), chèo thuyền kayak, rafting...
Tại Hội thảo Khoa học “Phát triển du lịch nghỉ dưỡng núi tại Việt Nam” mới đây, ThS. Nguyễn Thị Lan Hương, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, nhận định trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang nỗ lực phục hồi và phát triển mạnh mẽ sau đại dịch, nhu cầu về các loại hình du lịch nghỉ dưỡng gắn với thiên nhiên, chăm sóc sức khỏe và trải nghiệm văn hóa ngày càng gia tăng.
Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, các sản phẩm dựa trên khai thác giá trị thiên nhiên và văn hóa - đặc biệt là du lịch vùng núi kết hợp thể thao ngoài trời - được xác định là hướng ưu tiên, hứa hẹn trở thành điểm nhấn thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
Hiện nay, du lịch nghỉ dưỡng núi tập trung phát triển mạnh tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc với nhiều sản phẩm đặc sắc: tour mạo hiểm chinh phục các đỉnh núi cao như Fansipan, Ky Quan San, Tây Côn Lĩnh; trekking, thám hiểm hang động và rừng nguyên sinh tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, Vườn quốc gia Ba Bể; trải nghiệm văn hóa cộng đồng, nhiếp ảnh săn mây.
Vùng núi miền Trung cũng có các sản phẩm đặc trưng của hang động Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Trị) hoặc giới thiệu trải nghiệm Bà Nà Hills (Đà Nẵng), núi Bạch Mã (TP. Huế), núi Langbiang (Lâm Đồng)… và dấu ấn sản phẩm du lịch núi khu vực phía Nam tại núi Bà Đen (Tây Ninh), núi Bà Rá, Chứa Chan (Đồng Nai)…
Tuy nhiên, ngành du lịch gặp những rào cản không nhỏ như môi trường tự nhiên ở vùng núi nhạy cảm, dễ bị tốn thương trước khai thác quá mức. Hạn chế về hạ tầng giao thông, cơ sở dịch vụ và tiện ích tại nhiều điểm đến núi cao...
Bên cạnh đó, nguy cơ thương mại hóa, làm phai nhạt bản sắc văn hóa cộng đồng; thiếu khung chính sách và cơ chế quản lý liên ngành; nguồn nhân lực du lịch vùng núi còn yếu, sự tham gia của cộng đồng chưa được phát huy đầy đủ... cũng là những thách thức đáng kể trong quá trình phát triển.
Theo PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, phát triển nghỉ dưỡng núi không thể tách rời bảo tồn tài nguyên tự nhiên, văn hóa bản địa và đảm bảo an toàn. Điều này đòi hỏi một tư duy quy hoạch tích hợp, một cách tiếp cận liên ngành, và sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương.
“Chúng ta cần chuyển trọng tâm từ ‘khai thác tài nguyên’ sang ‘tạo dựng giá trị’, từ ‘phát triển điểm đến’ sang ‘xây dựng hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng bền vững’. Trong đó, khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, và đổi mới sáng tạo sẽ là những trụ cột để nâng tầm chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh”, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam gợi mở.
"Phát triển du lịch nghỉ dưỡng núi không chỉ là khai thác lợi thế địa hình hay khí hậu, mà là xây dựng hình ảnh Việt Nam như một điểm đến an toàn, nhân văn và giàu bản sắc văn hóa. Cần hướng tới mô hình nghỉ dưỡng núi kết hợp trải nghiệm văn hóa bản địa, nơi mà yếu tố tự nhiên và yếu tố con người cùng hòa quyện trong một không gian sống bền vững", PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương nêu ý kiến.
Theo nghiên cứu của TS. Đào Duy Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa giáo Văn xã, Văn phòng Chính phủ, du lịch nghỉ dưỡng núi tại Việt Nam cần được xây dựng sản phẩm theo mùa vụ và theo nhóm đối tượng khách đặc thù, đó là giải pháp vừa khai thác hiệu quả tiềm năng và vừa khắc phục hạn chế về tính đơn điệu của sản phẩm.
Ví dụ như mùa Xuân du lịch hoa và lễ hội, mùa Hè nghỉ dưỡng tránh nóng, mùa Thu mùa lúa chín, mùa Đông lễ hội băng tuyết... Sau đó có các chương trình quảng bá xúc tiến theo mùa và nhắm tới các thị trường mục tiêu, ví dụ "Sa Pa mùa Đông tuyết rơi", "Mộc Châu mùa hoa mận", "Tuyên Quang mùa hoa tam giác mạch"...
Ngoài ra, các sản phẩm nghỉ dưỡng núi cần được đa dạng hóa theo từng nhóm khách hàng, như khách gia đình cần khu vui chơi trẻ em, trải nghiệm giáo dục, nông nghiệp...; khách cao tuổi cần dịch vụ chăm sóc sức khỏe, spa, khoáng nóng...; khách quốc tế cần các tuyến đi bộ đường dài (trekking, hiking), lưu trú cộng đồng, sáng tác ảnh nghệ thuật (phototour)...
"Du lịch nghỉ dưỡng núi ở Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn, nhờ sự đa dạng về cảnh quan, khí hậu và văn hóa bản địa phong phú,” TS Đào Duy Tuấn nhận định. "Trong dài hạn nếu được triển khai đồng bộ, du lịch nghỉ dưỡng núi Việt Nam có thể trở thành một thương hiệu quốc gia, góp phần khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ du lịch quốc tế".
Nắng nóng gay gắt hơn, kéo dài hơn đang len vào từng quyết định đặt vé máy bay, chọn khách sạn và lên lịch trình nghỉ dưỡng của hàng trăm triệu du khách trên thế giới. Khái niệm "coolcation" đã trở thành một trục dịch chuyển thực sự của ngành công nghiệp không khói…
Hàn Quốc đang trải qua một mùa hè nắng nóng bất thường. Cơ quan Khí tượng Hàn Quốc (KMA) thống kê từ ngày 1/6 đến 27/7, số đêm nhiệt đới trung bình trên toàn quốc đạt 7,8 đêm, mức cao nhất kể từ khi nước này thiết lập hệ thống quan trắc khí tượng toàn quốc năm 1973…
Du lịch tàu biển quốc tế đang chuyển dịch rõ rệt từ phát triển theo quy mô sang chú trọng chất lượng trải nghiệm. Sự thay đổi này mở ra cơ hội lớn cho các địa phương ven biển Việt Nam, đặc biệt là dải đất miền Trung, để nâng cao vị thế trên bản đồ du lịch…
Nhiều giải pháp mới được đưa ra, kỳ vọng sẽ tạo động lực để ngành du lịch Thủ đô duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số. Từ đó nâng cao sức cạnh tranh và từng bước khẳng định vị thế của Hà Nội là điểm đến hấp dẫn của khu vực...
Bên cạnh tăng cường năng lực khai thác trên các đường bay hiện hữu, việc ngành hàng không mở các đường bay mới sẽ gia tăng lựa chọn cho hành khách, đồng thời tạo dư địa phát triển du lịch cho địa phương và giảm tải cho một số “điểm nóng” truyền thống…
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.