
Đi cùng với quá trình cổ phần hóa, sự có mặt của nhà đầu tư chiến lược đã và đang thể hiện giá trị đối với hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, vẫn có những trường hợp cần xét lại.
Vấn đề trên được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra tại phiên họp thứ 11 cuối tuần qua.
Theo Ủy ban, việc xác định bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược là hết sức quan trọng và có ý nghĩa đến sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai sau cổ phần hóa. Giá trị đó sẽ phát huy khi doanh nghiệp lựa chọn được một nhà đầu tư chiến lược thực sự phù hợp.
Nhưng, khảo sát của Ủy ban cho thấy thời gian qua việc xác định các cổ đông chiến lược tại nhiều doanh nghiệp chưa sát với thực tế; có nhiều đơn vị không đưa ra được các tiêu chí cụ thể, rõ ràng; có doanh nghiệp lựa chọn không chính xác. Điển hình là một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, khi lựa chọn Công ty Xổ số kiến thiết làm cổ đông chiến lược…
Một thực tế khác là đa số doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn nhà đầu tư chiến lược là những tổ chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhằm thu hút nguồn vốn, thay vì những tổ chức có kinh nghiệm quản lý, năng lực công nghệ, khả năng phát triển kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động chính của mình.
Điều đó có thể thấy ở Công ty Cổ phần Khoáng sản và Vật liệu xây dựng Lâm Đồng, có cổ đông chiến lược là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng (chiếm 8,35% vốn điều lệ), Ngân hàng Công thương Lâm Đồng (chiếm 1,2% vốn điều lệ); hay Tổng công ty Xuất nhập khẩu và Xây dựng Vinaconex lựa chọn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (chiếm 3,33% vốn điều lệ), Ngân hàng Techcombank (chiếm 0,67%), Ngân hàng Habubank (chiếm 0,67%), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (chiếm 0,67%) làm cổ đông chiến lược.
Từ thực tế trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá rằng “các doanh nghiệp cổ phần chưa thu hút được các cổ đông có trình độ công nghệ và kỹ năng quản lý cao, rất ít nhà đầu tư chiến lược được lựa chọn cùng ngành nghề, tham gia cụ thể vào quá trình quá trình sản xuất kinh doanh và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, tăng cường bạn hàng phân phối hay cung ứng vật tư truyền thống”.
Cá biệt, khi thực hiện bán cổ phần của nhà nước cho các cổ đông chiến lược đã xuất hiện một số trường hợp lựa chọn không đúng, mà thực tế chỉ là cá nhân đầu tư và có hiện tượng thông đồng để trục lợi. Có trường hợp đã được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Trong những trường hợp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng việc lựa chọn cổ đông chiến lược cũng là trách nhiệm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền, chứ không của riêng doanh nghiệp.
Một hạn chế khác trong thời gian qua là quá trình cổ phần hóa thu hút được rất ít nhà đầu chiến lược nước ngoài. Tình trạng này, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách, nhưng cũng có nguyên nhân phần lớn các doanh nghiệp cổ phần hóa vừa qua chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ví dụ như trong số 30 doanh nghiệp cổ phần hóa của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cổ đông chiến lược chỉ chiếm 0,04% số vốn điều lệ, nhưng không có cổ đông chiến lược nước ngoài. Hay trong 334 đơn vị cổ phần hoá của Bộ Xây dựng, cổ phần của các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp chiếm 22,1% nhưng cũng không có cổ đông chiến lược nước ngoài.
Để khắc phục những tình trạng trên, đề xuất mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra là doanh nghiệp cần thay đổi cách nhìn nhận về cổ đông chiến lược, đó là các cổ đông có tiềm lực tài chính, có năng lực về quản lý và công nghệ mới, có thị trường, có thương hiệu và uy tín, thực sự tham gia vào quá trình quản lý, kinh doanh và quyết định đến xu thế phát triển, tương lai của doanh nghiệp.
Còn theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP, nhà đầu tư chiến lược là nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, có năng lực quản lý, có năng lực tài chính, có khả năng chuyển giao công nghệ mới, phát triển thị trường, gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp.
Về cơ chế chính sách đối với các cổ đông chiến lược, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khuyến nghị cần có một cơ chế riêng cho phép họ tham gia với một tỷ lệ cổ phần hợp lý; việc mua bán cổ phần thông qua cơ chế thương thảo, trên cơ sở xác định đúng đắn giá trị doanh nghiệp.
Đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài, nếu không phải là lĩnh vực sản xuất kinh doanh có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, không ảnh hướng đến an ninh, quốc phòng và chủ quyền của đất nước, có thể cho phép tham gia cao hơn mức quy định hiện hành.




Việc dòng tiền đảo chiều tại thị trường Mỹ cho thấy nhà đầu tư có xu hướng thận trọng hơn với nhóm cổ phiếu tại thị trường phát triển này.
Tính đến ngày 30/9/2026, hiệu suất PYN Elite âm 12,67% từ đầu năm. Trong vòng 12 tháng, hiệu suất của quỹ âm 19,47%.
Lumen Vietnam Fund duy trì quan điểm tích cực trong dài hạn đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam, đồng thời nhìn nhận giai đoạn tích lũy hiện tại là cơ hội tích lũy hấp dẫn, thay vì dấu hiệu cho thấy xu hướng tăng trưởng mang tính cấu trúc đã thay đổi.
Theo một khảo sát năm 2026, trên 1.000 nhà đầu tư cá nhân, tiền gửi tiết kiệm chiếm bình quân 37% danh mục, bất động sản 36%, vàng 14%. Cộng lại, ba kênh truyền thống này chiếm tới 87% tổng tài sản.
Với mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ từ 10% trở lên trong năm 2026 và tiếp tục duy trì định hướng tăng trưởng cao trong các năm tới, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ ở mức rất lớn trong trung và dài hạn.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.