lời 0đ vẫn bán, nhà hàng làm sao có lãibún mắm thạch cuagỏi thạch cuamắm thạch cua

Điểm yếu ngân hàng Việt: Những đánh giá trực diện

Một loạt điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam qua đánh giá của tổ chức quốc tế uy tín

Theo báo cáo đánh giá của FSAP, hệ thống ngân hàng Việt Nam có đặc điểm là mức độ
 sở hữu chéo cao giữa các ngân hàng với nhau và giữa các ngân hàng và 
doanh nghiệp.
Theo báo cáo đánh giá của FSAP, hệ thống ngân hàng Việt Nam có đặc điểm là mức độ sở hữu chéo cao giữa các ngân hàng với nhau và giữa các ngân hàng và doanh nghiệp.

“Tiền đâu để thâu tóm ngân hàng?”, câu hỏi từng được đặt ra tại diễn đàn Quốc hội nay lại phảng phất một phần câu trả lời, có trong bản đánh giá toàn diện và sâu rộng về hệ thống ngân hàng Việt Nam vừa công bố.

Đây là bản báo cáo về kết quả Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) do Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) lần đầu tiên thực hiện tại Việt Nam.

Bản báo cáo hoàn thành vào tháng 6/2014, nhưng đến nay mới chính thức được công bố. Các dữ liệu để nhóm công tác của hai tổ chức trên làm cơ sở phân tích, đưa ra đánh giá chủ yếu chốt vào cuối năm 2012, hiện đã có nhiều thay đổi sau hai năm (bao gồm cả nỗ lực thay đổi của các cấp quản lý, điều hành). Dù vậy, những điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam mà họ chỉ ra một cách trực diện hẳn vẫn cần nhiều thời gian và nỗ lực nữa để xử lý.

Đầu tiên là con số về nợ xấu. Một lần nữa, khi mà sổ sách các ngân hàng báo cáo vẫn gọn gàng quanh mức 3%, thậm chí thấp hơn, thì báo cáo FSAP lại đề cập đến mức độ lớn hơn nhiều.

Theo báo cáo trên, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tích tụ một lượng lớn nợ xấu (NPL) được ước tính một cách thận trọng là 12% trên tổng dư nợ tại thời điểm cuối năm 2012.

Khuyến nghị đưa ra là việc kiểm toán tài chính đặc biệt đối với các ngân hàng sẽ cho kết quả đánh giá chính xác về NPL, nhu cầu cấp vốn bổ sung tương ứng và thông tin quan trọng để xây dựng các đề án xử lý nợ.

Về tín dụng, tăng trưởng được nhìn nhận ở diễn biến bất thường kể từ năm 2006, thể hiện qua việc tăng đột ngột rồi giảm mạnh. Năm 2007 tăng tới 54% (tương đương 20% GDP). Vào cuối 2008, do ảnh hưởng khủng hoảng toàn cầu, tín dụng và hoạt động kinh tế chậm lại. Ngay sau đó, việc nới lỏng chính sách tài khóa và tiền tệ đã gây ra một đợt bùng nổ tín dụng khác vào năm 2009 và 2010.

Lo ngại về việc có thể đã thắt chặt quá mức trong bối cảnh môi trường toàn cầu suy yếu đã đưa đến một đợt nới lỏng mạnh chính sách khác trong năm 2012 bằng cách cắt giảm lãi suất chính sách và thực hiện một nhóm các biện pháp hành chính. Tuy nhiên, dù đã nới lỏng chính sách nhưng lần này tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp, phản ánh chất lượng bảng cân đối tài sản của các ngân hàng đã suy giảm và đòi hỏi phải giảm tỷ lệ đòn bẩy.

Một nội dung đậm nét trong kết quả của FSAP là tình trạng sở hữu chéo. Theo báo cáo đánh giá, hệ thống ngân hàng Việt Nam có đặc điểm là mức độ sở hữu chéo cao giữa các ngân hàng với nhau và giữa các ngân hàng và doanh nghiệp. Mức độ sở hữu này bao gồm sở hữu các ngân hàng thương mại cổ phần bởi các ngân hàng khác, bởi các tập đoàn kinh tế với cấu trúc chưa hiểu rõ được.

“Cơ cấu cổ đông phức tạp đã gây ra những quan ngại sâu sắc về xung đột lợi ích và hoạt động cho vay bên có quan hệ/liên quan nhằm tài trợ cho các dự án thiếu minh bạch. Cơ cấu này cũng dẫn đến tình trạng phóng đại vốn do cho vay mua cổ phần lẫn nhau và đã tạo điều kiện lách các quy định an toàn như giới hạn tập trung tín dụng”, báo cáo viết.

Đặc biệt, là tổ chức quốc tế từ bên ngoài nhìn vào, đoàn công tác của WB và IMF bày tỏ hoài nghi về chất lượng số liệu và báo cáo được công bố, từ đó định hình về hiệu quả hoạt động của hệ thống.

Cụ thể, họ hoài nghi: Kết quả hoạt động của khu vực ngân hàng đã xấu đi trong những năm gần đây và có lẽ còn kém hơn so với báo cáo. ROA bình quân của tất cả các ngân hàng giảm từ 1,8% năm 2007 xuống còn 0,5% năm 2012, trong đó con số 0,5% có vẻ là đã bị phóng đại do chất lượng số liệu tài chính còn thấp.

Nói một cách khái quát hơn, thì chất lượng số liệu tài chính thấp đã ảnh hưởng đến việc đo lường một cách chính xác hầu hết các chỉ số hiệu quả hoạt động như ROA, tỷ lệ NPL và các hệ số vốn.

“Yếu kém về số liệu bắt nguồn từ một số yếu tố như các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng còn chưa thỏa đáng (bao gồm cả việc phân loại các khoản nợ được tái cơ cấu), định giá tài sản thế chấp không đáng tin cậy và phân loại một số tài sản nhất định là thanh khoản cần đặt dấu hỏi.

Thêm vào đó, còn có những quan ngại về việc xác định giá trị các tài sản phi tín dụng lớn trên bảng cân đối của các ngân hàng, đặc biệt là xác định chưa đầy đủ các khoản đầu tư (một số khoản liên quan đến các nghiệp vụ nhằm báo cáo thấp NPL) và thiếu minh bạch khi báo cáo về các hạng mục khác như các khoản phải thu”, các chuyên gia của WB và IMF lý giải.

Và như họ đề cập ở trên, do tình trạng sở hữu chéo phổ biến nên hoạt động cho vay góp vốn mua cổ phần lẫn nhau cũng là nội dung cần lưu ý khi nói về sự yếu kém của số liệu báo cáo.

Chất lượng danh mục cho vay và mức vốn của một số ngân hàng là những vấn đề rất đáng lo ngại, theo đánh giá của FSAP.

Do những yếu kém về số liệu đã nêu ở phần trên nên số liệu báo cáo tài chính đã được điều chỉnh trên cơ sở các giả định không quá chặt chẽ. Việc điều chỉnh như vậy đã làm cho tỷ lệ NPL tăng lên 12% vào cuối năm 2012 và làm giảm mạnh tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của một số ngân hàng.

Kết quả kiểm định sức chịu đựng sử dụng các số liệu đã điều chỉnh cho thấy các ngân hàng có nguy cơ gặp phải rủi ro tín dụng và rủi ro tập trung cao. Phân tích độ nhạy với những thay đổi về giả định đã xác nhận các phát hiện chính mặc dù số liệu tài chính còn thấp và đòi hỏi phải dựa vào các giả định để tính toán đồng nghĩa với việc các kết quả ước tính khi kiểm tra sức chịu đựng có khoảng tin cậy rộng.

Bản báo cáo của chương trình FSAP còn đề cập đến nhiều vấn đề khác, liên quan đến những gạch nối quan trọng trong cơ cấu tổ chức quản lý, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, như với Bảo hiểm Tiền gửi (DIV), Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC), Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)…

Cùng đó là loạt khuyến nghị gắn với các lộ trình thực hiện để hướng tới khắc phục, hoàn thiện hệ thống tài chính Việt Nam.

Và quan trọng hơn, phía cơ quan quản lý Việt Nam đón nhận những đánh giá trực diện, những khuyến nghị cụ thể đó như thế nào?

Bài 2: Đ

iểm yếu ngân hàng Việt: “Một cuộc kiểm điểm sâu sắc”

Giá USD tự do chạm đáy, tỷ giá ngân hàng duy trì đà giảm

Khép lại tuần giao dịch 27–31/7, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm về vùng thấp nhất kể từ đầu năm, trong khi tỷ giá ngân hàng giảm 50 đồng/USD ở cả hai chiều mua – bán, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm. Diễn biến này phản ánh áp lực tỷ giá trong nước đang hạ nhiệt, dù rủi ro từ chính sách của Fed và giá dầu vẫn hiện hữu...

Sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng 2024: Chuyển trọng tâm sang quản trị rủi ro hệ thống

Sau hơn một năm thực thi, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã tạo nền tảng quan trọng cho an toàn hệ thống ngân hàng thông qua cơ chế can thiệp sớm, xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và kiểm soát sở hữu chéo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy trọng tâm cải cách đang chuyển từ xử lý khủng hoảng sang nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro. Thách thức hiện nay không chỉ là hoàn thiện pháp luật mà còn là nâng cao chất lượng thực thi, dữ liệu, giám sát và quản trị để tăng sức chống chịu của hệ thống.

Giá bán USD tự do thấp hơn ngân hàng, giá mua cao hơn

Ngày 27/7, thị trường tự do ghi nhận giá mua USD cao hơn từ 233 - 465 đồng so với các ngân hàng nhưng giá bán lại thấp hơn 55 - 137 đồng. Chênh lệch giá mua - bán trên thị trường tự do khoảng 20 đồng mỗi USD...

Lãi suất qua đêm thấp nhất kể từ đầu năm nhưng các kỳ hạn dài vẫn neo cao

Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm, nhưng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn neo trên 7%, kéo chênh lệch giữa hai kỳ hạn lên gần 5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy thanh khoản ngắn hạn được cải thiện nhờ các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước, song thị trường vẫn thận trọng với triển vọng nguồn vốn trong bối cảnh rủi ro bên ngoài gia tăng…

Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.

VnEconomy Quyết sách đúng phải được chuyển hóa thành tăng trưởng chất lượng cao

Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy