Đề xuất mới về đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
TTùng Dương
Chọn cỡ chữ
Cách liệt kê tên loại hình, lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, chế biến thuộc đối tượng chịu phí nước thải công nghiệp chưa đảm bảo đầy đủ, dẫn đến vướng mắc trong quá trình triển khai. Danh mục 14 nhóm ngành, nghề lĩnh vực sản xuất, chế biến như hiện hành chưa bao quát toàn bộ các hoạt động xả thải đang diễn ra trên thực tế…
Ảnh minh họa
Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05/5/2020 của Chính phủ quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhằm bảo đảm rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với thực tế, bảo đảm tính hợp lý, tính khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành và áp dụng; khắc phục những hạn chế hiện nay.
Việc ban hành nghị định cũng nhằm đảm bảo tiêu chí “người gây ô nhiễm phải trả tiền” trên cơ sở xem xét tính tổng thể nghĩa vụ thuế, phí có liên quan đến bảo vệ môi trường của cùng một đối tượng nhằm đảm bảo việc thu phí bảo vệ môi trường không chồng chéo và mâu thuẫn với thuế bảo vệ môi trường, tránh tình trạng “lách luật” khi áp dụng quy định về phí và thuế. Bên cạnh đó tạo động lực cho doanh nghiệp cải tiến công nghệ sản xuất, đầu tư xử lý nước thải nhằm giảm thiểu phát thải chất ô nhiễm ra môi trường, góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể xả nước thải.
DANH MỤC NHÓM NGÀNH, NGHỀ SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN HIỆN CHƯA BAO QUÁT HOẠT ĐỘNG XẢ THẢI
Theo Bộ Tài chính, tại Điều 2 Nghị định 53/2020/NĐ-CP quy định: "Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường theo quy định tại Nghị định này là nước thải công nghiệp thải vào nguồn tiếp nhận nước thải theo quy định pháp luật và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp miễn thu phí theo quy định tại Điều 5 Nghị định này".
Trong đó, quy định cụ thể nước thải của 14 nhóm ngành, nghề, lĩnh vực, hoạt động sản xuất, chế biến thuộc đối tượng chịu phí đối với nước thải công nghiệp; và nước thải từ hộ gia đình, cá nhân; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; cơ sở: rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy, khám chữa bệnh, nhà hàng, khách sạn, đào tạo, nghiên cứu và cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác thuộc đối tượng chịu phí với nước thải sinh hoạt.
Quy định này được dựa trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp số 40:2011/BTNMT quy định: "Nước thải công nghiệp là nước thải phát sinh từ quá trình công nghệ của cơ sở sản xuất, dịch vụ công nghiệp, từ nhà máy xử lý nước thải tập trung có đấu nối nước thải của cơ sở công nghiệp" và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt số 14:2008/BTNMT quy định: "Nước thải sinh hoạt là nước thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người như ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân".
Các quy định này hiện nay đã thay đổi (bị thay thế) và được quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp số 40:2025/BTNMT (ban hành ngày 28/02/2025) quy định: "Nước thải công nghiệp là nước thải phát sinh từ: hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp".
Tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt và nước thải đô thị, khu dân cư tập trung số 14:2025/BTNMT ngày 28/02/2025 quy định: "Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của con người (bao gồm: ăn uống, tắm, giặt, vệ sinh cá nhân) hoặc phát sinh từ các loại hình kinh doanh, dịch vụ (quy định tại Phụ lục 1 Quy chuẩn này) được quản lý như nước thải sinh hoạt".
Như vậy, so với trước đây, quy định của pháp luật bảo vệ môi trường hiện hành về nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt đã có thay đổi về chủ thể xả thải, loại hình nước thải (bổ sung loại nước thải từ dự án đầu tư, hoạt động kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt, tuy có nằm trong nhóm nước thải công nghiệp).
Dự thảo tờ trình cho biết theo đề án của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cách liệt kê tên loại hình, lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, chế biến thuộc đối tượng chịu phí nước thải công nghiệp chưa đảm bảo đầy đủ các ngành, nghề lĩnh vực sản xuất, chế biến, dẫn đến vướng mắc trong quá trình triển khai.
Cụ thể, một số cơ sở có hoạt động sản xuất, chế biến nhưng không được quy định cụ thể nên cho rằng không thuộc đối tượng chịu phí dẫn đến không kê khai, nộp phí theo quy định, gây khó khăn cho cơ quan quản lý.
Ngoài ra, danh mục 14 nhóm ngành, nghề lĩnh vực sản xuất, chế biến như quy định hiện hành chưa bao quát toàn bộ các hoạt động xả thải đang diễn ra trên thực tế. Theo phân ngành kinh tế Việt Nam, hiện có khoảng 1.570 ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà các doanh nghiệp được phép đăng ký hoạt động.
Nhiều cơ sở là cá nhân, hộ gia đình có các hoạt động sản xuất, chế biến nhưng quy mô rất nhỏ, mang tính mùa vụ hoặc gắn với một số ưu thế về hình thái sinh sống tự nhiên như chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nông thôn, miền núi; giết mổ gia súc, gia cầm ở các khu chợ, khu dân sinh, nuôi trồng thủy sản những khu vực đầm, ao, hồ, sông suối, ven biển; gia công, chế biến sản phẩm truyền thống như làm bún, nấu rượu...
Vì vậy, việc thu phí bảo vệ môi trường với nước thải công nghiệp trong những trường hợp này là chưa phù hợp và thiếu thực tế do quy mô, theo dõi, quản lý của Nhà nước và các vấn đề về an sinh xã hội. Trong khi đó, hầu hết các cơ sở này thường đặt tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, Nhà nước cần có chính sách để phát triển, nâng cao đời sống của người dân.
Ngoài ra, nhiều cơ sở sản xuất, chế biến thuộc đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường với nước thải công nghiệp, nhưng thực tế trong quá trình sản xuất không phát sinh nước thải công nghiệp (mà chỉ phát sinh nước thải sinh hoạt từ hoạt động ăn uống, sinh hoạt của công nhân, nhân viên văn phòng), như: May mặc (quần áo, giày dép...); các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề; nhà máy cấp nước sạch; gia công cơ khí (không có xi mạ); sản xuất văn phòng phẩm; dược phẩm; phối trộn phân bón; đồ gỗ; xay xát lúa gạo; cơ sở điện gió; điện mặt trời...
Theo cơ quan soạn thảo, điều này dẫn đến việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của các cơ sở này là chưa phù hợp.
ĐỀ XUẤT ĐIỀU CHỈNH ĐỐI TƯỢNG CHỊU PHÍ, ĐẢM BẢO KHÔNG BỎ SÓT VÀ PHÙ HỢP THỰC TẾ
Để đảm bảo phù hợp quy định hiện hành của pháp luật bảo vệ môi trường về nước thải, đặc thù của ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (chủ thể xả thải) đồng thời đảm bảo không bỏ sót đối tượng, phù hợp với thực tế và hiệu quả thu phí, cơ quan soạn thảo đề xuất quy định về đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại Điều 2 dự thảo Nghị định.
Cụ thể, theo dự thảo tờ trình, đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường theo quy định tại Nghị định này là nước thải công nghiệp thải vào nguồn tiếp nhận nước thải theo quy định pháp luật và nước thải sinh hoạt, trừ trường hợp miễn thu phí theo quy định tại Điều 5 Nghị định này gồm các đối tượng chính.
Bỏ quy định liệt kê tên loại hình, lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, chế biến thuộc đối tượng chịu phí. Quy định đối tượng chịu phí theo hướng viện dẫn đến pháp luật chuyên ngành đảm bảo phù hợp quy định hiện hành của pháp luật bảo vệ môi trường về nước thải, đặc thù của ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đảm bảo không bỏ sót đối tượng, phù hợp với thực tế và hiệu quả thu phí.
Thứ nhất, nước thải công nghiệp là nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Thứ hai, nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của con người (bao gồm: ăn uống, tắm, giặt, vệ sinh cá nhân) hoặc phát sinh từ các loại hình kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt theo quy định pháp luật.
Như vậy, so với quy định hiện hành, dự thảo bỏ quy định liệt kê tên loại hình, lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, chế biến thuộc đối tượng chịu phí.
Quy định đối tượng chịu phí theo hướng viện dẫn đến pháp luật chuyên ngành đảm bảo phù hợp quy định hiện hành của pháp luật bảo vệ môi trường về nước thải, đặc thù của ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (chủ thể xả thải) đồng thời đảm bảo không bỏ sót đối tượng, phù hợp với thực tế và hiệu quả thu phí.
Cũng theo dự thảo, sẽ có 9 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường với nước thải, thay vì 7 trường hợp như hiện nay.
Việc quy định thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhằm nâng cao ý thức của tổ chức, cá nhân về bảo vệ môi trường; ràng buộc đối tượng xả thải nước thải đóng góp kinh phí phục vụ cho việc xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường; tạo nguồn thu ngân sách để hỗ trợ kinh phí xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường tại mỗi địa phương. Theo thống kê, số thu phí năm 2022 đạt 2.200 tỷ đồng; năm 2023 đạt 2.804 tỷ đồng; năm 2024 đạt 3.338 tỷ đồng).
Chính quyền Tổng thống Donald Trump đang tìm cách xem xét lại giấy phép của một dự án điện gió ngoài khơi tại bang Massachusetts, đánh dấu dự án thứ tư bị nhắm tới trong những tháng gần đây. Động thái này làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gia tăng bất ổn đối với các dự án năng lượng và phá vỡ nỗ lực cải cách quy trình cấp phép tại Mỹ…
Để xử lý lượng tro bay từ các nhà máy điện rác, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết trong giai đoạn trước mắt vẫn được chôn lấp nhưng về lâu dài, thành phố định hướng chuyển từ chôn lấp sang tái chế, tận dụng tro bay làm nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng. Chậm nhất sau 2 năm thực hiện phương án chôn lấp, các nhà máy phải đưa ra giải pháp kỹ thuật xử lý tro bay...
Từ tái thiết nhà ở, phát triển hạ tầng năng lượng tại Thổ Nhĩ Kỳ đến xây dựng thành phố mới New Tashkent ở Uzbekistan, các nhà quy hoạch đang tìm cách giúp đô thị tăng khả năng chống chịu trước nắng nóng, hạn hán và những sức ép môi trường ngày càng lớn…
Đà Nẵng đang ưu tiên định hướng nguồn viện trợ vào các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời tăng cường tiếp nhận công nghệ xanh và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Tại phiên chất vấn lĩnh vực môi trường, các đại biểu HĐND TP.Hà Nội tập trung đặt vấn đề những bất cập trong quy hoạch, phân cấp quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn. Thành phố xác định tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, rà soát phương thức tổ chức dịch vụ vệ sinh môi trường, đẩy mạnh phân loại, thu gom, tái chế, hướng tới nâng cao hiệu quả xử lý rác thải và giảm dần chôn lấp…
Các loại hình nhà ở người nước ngoài có thể tiếp cận; điều kiện giao dịch và hạn mức sở hữu tại từng dự án; những trở ngại khi mua, thuê hoặc bố trí chỗ ở cho chuyên gia… cùng những giải pháp tháo gỡ đã được đưa ra bàn thảo công khai.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...