cua sỉmón cho vườn bia (beer garden)mua cua sỉ

Đẩy mạnh công tác đối ngoại phục vụ đổi mới mô hình phát triển Việt Nam

Ngày 4/8, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển trình bày tham luận về: Đẩy mạnh công tác đối ngoại phục vụ đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn bài tham luận.

Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển trình bày tham luận tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 ngày 4/8
Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển trình bày tham luận tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 ngày 4/8

Trước hết, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương xin được bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn Bộ Ngoại giao trong thời gian qua đã luôn hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ với Ban trong nghiên cứu, xây dựng các Đề án trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành các nghị quyết, kết luận của Đảng; đặc biệt gần đây là Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 Khóa XIV về “Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam” – Nghị quyết về vấn đề rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ, có ý nghĩa định hình mô hình phát triển quốc gia đến năm 2045 và xa hơn như kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên Bế mạc Hội nghị Trung ương 3 Khóa XIV.

Tại Hội nghị quan trọng này, thay mặt Lãnh đạo Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, theo đề nghị của Ban Tổ chức Hội nghị, tôi xin được trình bày tham luận với chủ đề “Đẩy mạnh công tác đối ngoại phục vụ đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”.

Trên cơ sở đánh giá toàn diện thực trạng mô hình phát triển đất nước qua 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh, bối cảnh quốc tế, trong nước và yêu cầu phát triển trong thời gian tới, tại Nghị quyết số 19, Trung ương Đảng đã xác định Mô hình phát triển tổng quát của Việt Nam đến năm 2045 là Mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính.

Đồng thời, Nghị quyết đã xác định 7 mô hình phát triển thành phần theo các lĩnh vực, cụ thể là: (1) Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; (2) Mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; (3) Mô hình phát triển văn hóa, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn; (4) Mô hình phát triển môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững, thích ứng; (5) Mô hình quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; (6) Mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; (7) Mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển.

Có thể khẳng định, mô hình đối ngoại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi vừa tạo ra điều kiện, không gian và nguồn lực cho sự phát triển của từng mô hình thành phần, vừa kết nối, cộng hưởng và khuếch đại sức mạnh tổng hợp, qua đó thúc đẩy sự thành công của tổng thể mô hình phát triển đất nước.

Năm thành tố: chủ động – toàn diện – hiệu quả – bản sắc – kiến tạo phát triển chính là năm đặc trưng cốt lõi của Mô hình đối ngoại. Trên cơ sở bám sát các thành tố trong mô hình, Tôi xin đề xuất một số giải pháp đối với ngành ngoại giao như sau:

Thứ nhất, về tính CHỦ ĐỘNG. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường, đối ngoại phải chủ động về chiến lược, dự báo và định hình cục diện. Từ đó xin kiến nghị 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

(1)- Nâng cao năng lực tham mưu chiến lược, nghiên cứu và dự báo đối ngoại. Phân tích sớm các xu hướng lớn về địa chính trị, địa kinh tế, khoa học và công nghệ, chuỗi cung ứng. Tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong công tác tham mưu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

(2)- Chủ động định hình môi trường quốc tế thuận lợi: củng cố vành đai an ninh – phát triển với các nước láng giềng; giữ quan hệ cân bằng, hài hòa, đan xen lợi ích chiến lược với các nước lớn; đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình.

(3)- Chủ động quản trị rủi ro, đa dạng hóa đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ, tránh phụ thuộc quá mức vào bất kỳ đối tác hay hệ sinh thái nào, giữ vững tự chủ chiến lược.

Thứ hai, về tính TOÀN DIỆN. Đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cần triển khai trên tất cả các lĩnh vực và với sự tham gia của nhiều chủ thể. Để bảo đảm tính toàn diện, cần lưu ý các giải pháp sau:

(1)- Phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân.

(2)- Triển khai đồng bộ các loại hình ngoại giao chuyên ngành; gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa và khoa học và công nghệ.

(3)- Nâng cao năng lực đối ngoại và hội nhập quốc tế của chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong đối ngoại Nhân dân, ngoại giao tri thức và công nghệ.

Thứ ba, về tính HIỆU QUẢ. Lấy kết quả thực chất làm thước đo, chuyển hóa quan hệ chính trị tốt đẹp thành dòng chảy thực chất về vốn, công nghệ, thị trường và nguồn lực phát triển. Các giải pháp trọng tâm gồm:

(1) - Khẩn trương xây dựng và triển khai Chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới.

(2) - Triển khai hiệu quả, thực chất các khuôn khổ quan hệ đối tác đã thiết lập, đồng thời xem xét nâng cấp quan hệ với một số đối tác vào thời điểm thích hợp. Phát huy vai trò của ngoại giao nguyên thủ và đối ngoại cấp cao, gắn mỗi hoạt động đối ngoại cấp cao với những kết quả cụ thể về thu hút nguồn lực và chuyển giao công nghệ.

(3)- Lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm. Thực hiện hợp tác chiến lược có chọn lọc, phù hợp với nhu cầu phát triển và năng lực hấp thụ của nền kinh tế.

Thứ tư, về tính BẢN SẮC. Đối ngoại không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, tầm vóc và sức mạnh mềm của dân tộc. Để phát huy bản sắc, đề nghị cần lưu ý các giải pháp sau:

(1) - Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

(2) - Đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, nâng cao sức mạnh mềm và thương hiệu quốc gia.

(3)- Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Xây dựng năng lực và tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn vì lợi ích đất nước cho đội ngũ cán bộ ngoại giao.

Thứ năm, về tính KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN. Đây là điểm mới cốt lõi nhất, hàm ý cần chuyển từ thu hút nguồn lực sang chủ động mở rộng không gian phát triển và kiến tạo năng lực phát triển quốc gia. Các giải pháp then chốt gồm:

(1) - Đẩy mạnh ngoại giao công nghệ và ngoại giao số. Nâng cấp, hoàn thiện mạng lưới các đầu mối phụ trách về ngoại giao khoa học, công nghệ, ngoại giao số tại các cơ quan đại diện.

(2) - Xây dựng và triển khai các cơ chế đặc thù thu hút đối tác chiến lược, tập đoàn đa quốc gia, tổ chức nghiên cứu, chuyên gia và nhân tài quốc tế tham gia các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

(3)- Nâng tầm đối ngoại đa phương, phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt tại các cơ chế khu vực và toàn cầu. Chủ động tham gia định hình các chuẩn mực quốc tế mới về kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, tài chính xanh, an ninh mạng và chuỗi cung ứng. Thúc đẩy Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị và mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.

Đổi mới mô hình phát triển là một cuộc chuyển đổi sâu sắc, có ý nghĩa lịch sử. Công tác đối ngoại có sứ mệnh vinh dự là lực lượng tiên phong, mở đường, kiến tạo không gian và huy động nguồn lực cho sự phát triển của đất nước. Ban Chính sách, chiến lược Trung ương bày tỏ sự tin tưởng và mong muốn tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao và các cơ quan trong thời gian tới.

Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy các ngành kinh tế trọng điểm bứt phá

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, việc tháo gỡ điểm nghẽn cho các ngành kinh tế mũi nhọn là yêu cầu cấp bách. Từ áp lực thuế quan đối với ngành dệt may, gỗ, bài toán chi phí của ngành điện tử, phân bón đến những rào cản pháp lý trong bán lẻ và thương mại điện tử, đại diện các hiệp hội ngành hàng đồng loạt đưa ra nhiều đề xuất nhằm khơi thông nguồn lực và kiến tạo động lực phát triển mới.

Đạt chất lượng tăng trưởng cao đi cùng kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô

Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ....

Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy