
So với các nhóm ngành khác, giá cổ phiếu ngân hàng hiện khá thấp, nhưng so với các ngân hàng lớn trong khu vực lại không hề “rẻ”.
Đây là đánh giá của Công ty Cổ phần Chứng khoán SME (SMES), đưa ra trong bản báo cáo phân tích cổ phiếu ngành ngân hàng vừa công bố ngày 9/8 vừa qua.
Đánh giá của công ty chứng khoán này tập trung ở nhóm cổ phiếu các ngân hàng đã niêm yết, bao gồm ACB của Ngân hàng Á Châu (ACB), CTG của Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), EIB của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), SHB của Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), STB của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và VCB của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank).
Theo SMES, do đặc điểm của nhóm ngành ngân hàng, chỉ số P/B thường được sử dụng rộng rãi nhất để định giá, và cũng là một cơ sở tham khảo để trả lời cho câu hỏi trên.
Chỉ số P/B (Price-to-Book) là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó.
Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua…
Kết quả phân tích mà SMES đưa ra cho thấy, so sánh với các nhóm ngành khác trên sàn niêm yết, chỉ số P/B của cổ phiếu ngành ngân hàng khá thấp (2.2x). P/B của nhóm ngành ngân hàng ngày 2/8/2010 là 2.2, trong khi của nhóm ngành công nghệ thông tin là 3.5, của công nghiệp là 2.7, dầu khí là 2.1, dịch vụ tiêu dùng là 3.6, dược phẩm là 2.5, hàng tiêu dùng là 3.5, nguyên vật liệu là 4.0…
Tuy nhiên, so với các ngân hàng lớn khác trong khu vực, giá cổ phiếu ngân hàng của Việt Nam lại không “rẻ”, khi chỉ số P/B cao hơn trung bình khoảng 30% - 40% bất chấp việc đã liên tục giảm giá trong thời gian gần đây. P/B tại cùng thời điểm trên của một số ngân hàng mà SMES đưa ra so sánh của Trung Quốc chỉ từ 1.68 - 2.18, của Hồng Kông từ 1.23 - 1.60, của Singapore từ 1.29 - 1.68, của Nhật Bản từ 0.29 - 0.32.
SMES cho rằng, có hai nguyên nhân chính có thể giải thích cho chỉ số P/B của các ngân hàng Việt Nam cao hơn mặt bằng chung khu vực.
Thứ nhất là kỳ vọng của nhà đầu tư vào tiềm năng phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam. Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, ngân hàng luôn là nhóm ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất.
Thứ hai, các ngân hàng Việt Nam có tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ khá nhanh, nhanh hơn khả năng nguồn tiền này được sử dụng hiệu quả phục vụ sản xuất kinh doanh, do đó đẩy chỉ số P/B lên cao.
Về hiệu quả kinh doanh và triển vọng trong năm 2010, báo cáo phân tích của SMES cũng đưa ra một số dữ liệu đáng chú ý. Theo đánh giá của công ty chứng khoán này, với 6 ngân hàng đã niêm yết nói trên, kết quả lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm 2010 so với cùng kỳ năm 2009 có sự tăng trưởng khá ấn tượng; trong đó CTG và STB đạt mức tăng trưởng cao nhất với 50,98% và 49,51%.
Tuy nhiên, SMES cũng lưu ý một số điểm đáng lo ngại đối với kết quả kinh doanh của các ngân hàng.
Cụ thể, các ngân hàng năm nay đều có dự kiến tăng (hoặc đã tăng) vốn điều lệ mạnh, có trường hợp trên 75% như SHB hoặc CTG. Với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thấp hơn vốn điều lệ, thu nhập cơ bản trên cổ phiếu của nhóm ngành ngân hàng nhìn chung có xu hướng tăng trưởng âm năm 2010.
Mặt bằng chỉ tiêu tăng trưởng của các ngân hàng năm nay nhìn chung khá khiêm tốn, thậm chí VCB còn đặt mục tiêu tăng trưởng âm; do đó việc vượt 50% mục tiêu doanh thu/lợi nhuận của nhóm các cổ phiếu ngân hàng sau 6 tháng đầu năm 2010 cũng không bất ngờ đối với nhà đầu tư.
Trong 6 tháng cuối năm, SMES cho rằng, “với sự kỳ vọng vào khả năng nới lỏng chính sách tiền tệ, nhà đầu tư kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng nhanh hơn của doanh thu và lợi nhuận. Tuy nhiên, tính đế thời điểm hiện nay, vẫn chưa thấy những thay đổi mang tính chất đột biến đối với nhóm ngành này”.
Và một áp lực quan trọng nữa, đó là nguồn cung cổ phiếu. Để hoàn thành kế hoạch tăng vốn, các ngân hàng có vốn dưới 3.000 tỷ đồng đang chạy đua để tăng quy vốn trước khi năm tài chính 2010 kết thúc. Dự kiến trong nửa cuối năm nay thị trường chứng khoán sẽ đón nhận một nguồn cung rất lớn cổ phiếu ngân hàng từ các đợt phát hành thêm. Điều này chắc chắn sẽ tạo ra áp lực cung rất lớn đối với thị trường chứng khoán.
| Tăng trưởng lợi nhuận sau thuế và vốn điều lệ giữa các năm 2009 và 2010 (nguồn: SMES) | ||||||
| ACB | CTG | EIB | SHB | STB | VCB | |
| LNST H1/2010 so với H1/2009 | 23.27% | 50.98% | 14.99% | 27.31% | 49.51% | 8.67% |
| VĐL H1/2010 so với H1/2009 | 23.33% | 45.57% | 21.88% | 0.00% | 12.09% | 0.00% |




Việc dòng tiền đảo chiều tại thị trường Mỹ cho thấy nhà đầu tư có xu hướng thận trọng hơn với nhóm cổ phiếu tại thị trường phát triển này.
Tính đến ngày 30/9/2026, hiệu suất PYN Elite âm 12,67% từ đầu năm. Trong vòng 12 tháng, hiệu suất của quỹ âm 19,47%.
Lumen Vietnam Fund duy trì quan điểm tích cực trong dài hạn đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam, đồng thời nhìn nhận giai đoạn tích lũy hiện tại là cơ hội tích lũy hấp dẫn, thay vì dấu hiệu cho thấy xu hướng tăng trưởng mang tính cấu trúc đã thay đổi.
Theo một khảo sát năm 2026, trên 1.000 nhà đầu tư cá nhân, tiền gửi tiết kiệm chiếm bình quân 37% danh mục, bất động sản 36%, vàng 14%. Cộng lại, ba kênh truyền thống này chiếm tới 87% tổng tài sản.
Với mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ từ 10% trở lên trong năm 2026 và tiếp tục duy trì định hướng tăng trưởng cao trong các năm tới, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ ở mức rất lớn trong trung và dài hạn.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.