Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy các cơ chế tài chính sáng tạo và bền vững cho bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) phối hợp cùng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường (ISPONRE), Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng (RIFEE) và các bên liên quan xây dựng Hướng dẫn kỹ thuật chi trả dịch vụ hệ sinh thái cấp cơ sở áp dụng cho các hệ sinh thái biển và đất ngập nước, thông qua việc thí điểm tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp.
Tại cuộc họp tham vấn lấy ý kiến của các Ban quản lý các khu bảo tồn, các chuyên gia và các bên liên quan để hoàn thiện Hướng dẫn ngày 26/2/2025, các chuyên gia cho rằng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam trong hơn 10 năm qua đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Mỗi năm, hàng nghìn tỷ đồng được huy động từ các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng, như các nhà máy thủy điện, cơ sở cung cấp nước sạch và du lịch sinh thái, giúp cải thiện sinh kế của hàng trăm nghìn hộ dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số sống phụ thuộc và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rừng.
Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP mở rộng cơ chế chi trả sang các hệ sinh thái quan trọng khác, bao gồm biển và đất ngập nước– những khu vực đang chịu tác động nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu và các hoạt động kinh tế thiếu bền vững.
Một trong những lợi ích rõ rệt nhất của cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái là khả năng tạo ra nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo tồn thiên nhiên. Thông qua việc yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái phải chi trả tương xứng, chi trả dịch vụ hệ sinh thái không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước mà còn khuyến khích các bên khai thác tài nguyên theo hướng bền vững.
Dù chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong hơn 10 năm qua, nhưng việc mở rộng cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái sang các hệ sinh thái khác như biển và đất ngập nước vẫn gặp nhiều thách thức.
Một trong những khó khăn được các chuyên gia chỉ ra là việc định lượng và gán giá trị kinh tế cho các dịch vụ mà các hệ sinh thái này cung cấp. Khác với rừng là nơi các dịch vụ như hấp thụ carbon, bảo vệ đất và cung cấp nước sạch đã được nghiên cứu và định giá tương đối rõ ràng, các hệ sinh thái biển và đất ngập nước có đặc điểm phức tạp hơn.
Cụ thể, việc đo lường giá trị các dịch vụ như điều tiết lũ, duy trì đa dạng sinh học, hấp thụ carbon xanh (blue carbon) hay bảo vệ bờ biển vẫn còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó, các hệ sinh thái biển và đất ngập nước thường có nhiều bên khai thác và sử dụng tài nguyên với lợi ích chồng lấn, từ nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản, du lịch sinh thái đến vận tải đường thủy… gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm và mức chi trả của từng bên.
Bộ hướng dẫn kỹ thuật chi trả dịch vụ hệ sinh thái cấp cơ sở cung cấp các hướng dẫn chi tiết về nguyên tắc, quy trình và phương pháp để xây dựng các nội dung của một Đề án chi trả dịch vụ hệ sinh thái cấp cơ sở đối với hệ sinh thái biển và đất ngập nước theo quy định gồm: tên gọi và địa danh của hệ sinh thái; thông tin chung về khu vực cung ứng dịch vụ hệ sinh thái và các bản đồ ranh giới, mốc giới, diện tích cung ứng dịch vụ hệ sinh thái;
Cùng với đó là các loại dịch vụ hệ sinh thái được cung ứng; danh sách tổ chức, cá nhân sử dụng và trả tiền dịch vụ hệ sinh thái; các biện pháp bảo tồn, duy trì và phát triển hệ sinh thái; mức chi trả, hình thức chi trả và phương án sử dụng nguồn thu từ chi trả dịch vụ hệ sinh thái.
Tài liệu kỹ thuật này tập trung cung cấp các hướng dẫn cụ thể, cần thiết cho các bên liên quan, đặc biệt là Ban quản lý các Khu bảo tồn– các đơn vị cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái– trong quá trình triển khai các chính sách về chi trả dịch vụ hệ sinh thái áp dụng cho hệ sinh thái biển và đất nhập nước nêu trong Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP.
Theo ông Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, “chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hay chính là Chi trả dịch vụ hệ sinh thái áp dụng cho hệ sinh thái rừng, được triển khai thành công trong hơn một thập kỷ qua cũng phải bắt đầu từ những hoạt động thí điểm, rút kinh nghiệm hoàn thiện chính sách.
Các chính sách áp dụng cho hệ sinh thái biển và đất ngập nước tuy được học hỏi kinh nghiệm từ những chính sách đi trước áp dụng cho hệ sinh thái rừng, nhưng vẫn đòi hỏi những nghiên cứu chuyên sâu do đặc thù khác nhau về tính chất tự nhiên, cơ chế quản lý, cũng như đặc điểm sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái”.
“Việc xây dựng hướng dẫn kỹ thuật và áp dụng thí điểm tại các địa bàn cụ thể là một cách tiếp cận đúng đắn để thúc đẩy chính sách này cũng như để thu thập các phản hồi cần thiết cho việc hoàn thiện chính sách trong tương lai.”
Cùng với việc xây dựng Hướng dẫn kỹ thuật, Đề án Chi trả dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước tại Vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp, được xây dựng thí điểm để đóng góp đầu vào quan trọng cho hoàn thiện Hướng dẫn. Thời gian tới, việc triển khai Đề án tại Đồng Tháp sẽ có đóng góp quan trọng thúc đẩy việc triển khai Chi trả dịch vụ hệ sinh thái tại cấp cơ sở, đồng thời cung cấp các phản hồi cho việc hoàn thiện chính sách Chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên tại Việt Nam.
Còn ông Patrick Haverman, Phó Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam chia sẻ: “Các hệ sinh thái đất ngập nước và biển đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đảm bảo đời sống cho người dân và cải thiện khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Việc hiện thực hóa các chính sách về Chi trả dịch vụ hệ sinh thái cho hệ sinh thái đất ngập nước và biển không chỉ có ý nghĩa về mặt tài chính cho bảo tồn đa dạng sinh học, mà sẽ giúp nâng cao nhận thức của các bên về giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường từ các hệ sinh thái quan trọng này cũng như vai trò và trách nhiệm của các bên liên quan trong bảo vệ chúng”.
Ông Patrick Haverman cũng hi vọng các hướng dẫn kỹ thuật được xây dựng sẽ giúp từng bước giúp hiện thực hóa chính sách quan trọng này.
Việc hoàn thiện và triển khai bộ hướng dẫn kỹ thuật chi trả dịch vụ hệ sinh thái được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều tác động tích cực. Không chỉ tăng cường hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái trọng yếu, cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái còn mở ra các nguồn tài chính mới phục vụ công tác bảo tồn, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và nâng cao sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Quan trọng hơn, chi trả dịch vụ hệ sinh thái tạo ra động lực kinh tế để các bên liên quan từ doanh nghiệp đến người dân tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường.
Theo các chuyên gia, chính sách chi trả dịch vụ hệ sinh thái cho biển và đất ngập nước nếu được thực hiện thành công sẽ giúp định hướng phát triển bền vững cho đất nước thông qua việc tích hợp giá trị kinh tế của các dịch vụ tự nhiên vào chính sách môi trường và nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên…
Trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng do El Nino, yêu cầu đặt ra phải chủ động ứng phó, sớm hành động, không chờ đến mùa khô năm 2027 mới chống hạn...
Ngày 14/10/2026, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đã có buổi làm việc với Đại sứ Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam Julien Guerrier, trao đổi các định hướng hợp tác về nông nghiệp, môi trường, thương mại và phát triển bền vững...
Tại Cuộc họp mạng lưới cán bộ ô-dôn quốc gia khu vực Nam Á, Đông Nam Á và quốc đảo Thái Bình Dương, Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế tập trung thúc đẩy thực hiện Nghị định thư Montreal, giảm dần các chất gây nóng lên toàn cầu trong lĩnh vực làm mát và nâng cao hiệu quả năng lượng, phát triển các giải pháp làm mát bền vững...
Xe buýt điện ngày càng phổ biến tại các đô thị châu Âu, nhưng chi phí đầu tư, tốc độ chuyển đổi chậm và sự phụ thuộc vào ô tô cá nhân vẫn là những thách thức đối với mục tiêu phát thải bằng 0 của khu vực…
Bộ tiêu chuẩn ra đời là cơ sở để tiến hành công tác thành lập các bản đồ địa chất môi trường trong từng loại khoáng sản độc hại; làm cơ sở tham chiếu để bổ sung và hoàn thiện các quy định liên quan; xây dựng bộ đơn giá cụ thể cho từng hạng mục công việc trong công tác điều tra, đánh giá và thành lập bộ bản đồ môi trường khoáng sản độc hại.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.