
Ngày 14/3/2007 tới, Nghị định số 89/2006/NĐ-CP về nhãn hàng hoá do Chính phủ ban hành ngày 30/9/2006 sẽ chính thức có hiệu lực thi hành.
Từ nay đến thời điểm đó chỉ còn hơn 2 tháng để các nhà sản xuất, kinh doanh thực hiện một khối lượng công việc rất lớn có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Để đáp ứng yêu cầu cần phải chỉnh sửa bổ sung các quy định về nhãn hàng hoá, đáp ứng đòi hỏi mới của quá trình hội nhập, vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/9/2006 về nhãn hàng hoá thay thế cho Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ về ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất, nhập khẩu; Quyết định số 95/2000/QĐ-TTg ngày 15/8/2000 về việc điều chỉnh bổ sung một số quy định trong Quyết định 178/1999/QĐ-TTg và hơn 20 văn bản hướng dẫn của các ngành.
Được ban hành vào giai đoạn nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với hàng loạt các nguyên tắc, đòi hỏi, luật lệ và thậm chí là “hàng rào kỹ thuật” của các nước phát triển về nhãn hàng hoá nên Nghị định 89/2006/NĐ-CP có nhiều nội dung thay đổi so với trước.
Vậy doanh nghiệp cần phải lưu ý những gì từ Nghị định mới này?
Thứ nhất, hiệu lực thi hành của Nghị định sau 6 tháng kể từ ngày ban hành. Sở dĩ Nhà nước cho phép các nhà sản xuất, kinh doanh có 6 tháng kể từ ngày Nghị định được ban hành để có thời gian lên, thực hiện các kế hoạch về nhãn hàng hoá theo các quy định về nhãn trước đây, bởi vì nhãn hàng hoá liên quan chặt chẽ đến kế hoạch kinh doanh của năm, thậm chí của nhiều năm, số lượng nhãn mác đã in, đã nằm trong các hợp đồng quảng cáo, tiếp thị...
Hơn nữa, Nghị định này có rất nhiều nội dung rất mới mẻ về xác định đối tượng hàng hoá phải ghi nhãn, vị trí ghi nhãn, kích thước nhãn, màu sắc của chữ, ký hiệu hình ảnh trên nhãn, ngôn ngữ trình bày, trách nhiệm ghi nhãn, các nội dung bắt buộc (tên hàng, tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hoá, xuất xứ hàng hoá), luật áp dụng...
Thứ hai, Nghị định 89/2006/NĐ-CP là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, thống nhất quy định nội dung, cách ghi và quản lý Nhà nước về nhãn đối với hàng hoá lưu thông trong nước và đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu.
Hiện các mặt hàng lưu thông trong nước không đạt yêu cầu ghi nhãn rất nhiều (hàng thực phẩm 46%, dược phẩm 17%, mỹ phẩm 70%, hoá chất 96%...). Điều này cũng xảy ra đối với các hàng hoá xuất khẩu vào các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản...
Hiện tượng doanh nghiệp lúng túng, vô tình hay cố ý thực hiện, áp dụng không đúng quy định về ghi nhãn hàng hoá vẫn còn tiếp diễn, thậm chí trong số đó có cả doanh nghiệp lớn (một đại gia ngành sữa Việt Nam chẳng hạn)...
Thứ ba, hình thức, nội dung thể hiện trên nhãn hàng hoá theo Nghị định có nhiều điểm mới. Điểm mới đầu tiên là về mặt hình thức thể hiện trên nhãn hàng hoá. Trước đây, các quy định về hình thức thể hiện của nhãn khá cứng nhắc, không tạo ra được sự chủ động, linh hoạt trong việc quảng cáo, tiếp thị hàng hoá như việc quy định về vị trí, về màu sắc của chữ, về ngôn ngữ trình bày... Nhưng cũng có những quy định tạo ra sự tuỳ tiện, “lách luật” để cố ý hay vô ý không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về hàng hoá cho người tiêu dùng như việc sử dụng ngôn ngữ không phổ biến, không có gốc Latinh, việc che lấp nhãn chính bằng nhãn phụ...
Nghị định đã đặt mục tiêu cao nhất là xác định tính trung thực của hàng hoá trong quá trình sản xuất, lưu thông trên thị trường thông qua các quy định về chữ viết, vị trí, hình ảnh, dấu hiệu, ký hiệu... của nhãn hàng hoá phải rõ ràng và phải phản ánh được bản chất của hàng hoá.
Đồng thời, ngôn ngữ trình bày phải bằng tiếng Việt (nếu là tiếng nước ngoài thì phải nhỏ hơn tiếng Việt và có gốc Latinh). Điều này sẽ tránh được việc ghi sai nhãn hàng hoá, sử dụng ngôn ngữ ít người tiêu dùng Việt Nam biết như tiếng Thái, tiếng Arập... (không có gốc Latinh) hoặc việc áp dụng cứng nhắc các quy định về kích thước, màu sắc của chữ, vị trí của nhãn... như các quy định về ghi nhãn trước đây.
Điểm mới thứ hai là về mặt nội dung và cách ghi nhãn. Theo quy định tại Chương II Nghị định thì các nội dung bắt buộc phải ghi nhãn đối với tất cả các loại hàng hoá là 03 (tên hàng hoá; xuất xứ hàng hoá; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm về hàng hoá), ngoài ra tuỳ theo tính chất của mỗi loại hàng hoá thì còn phải thể hiện trên nhãn hàng các thông tin khác liên quan. Nghị định đã liệt kê 49 loại hàng hoá với các nội dung cụ thể cho từng mặt hàng.
Ba nội dung bắt buộc trên được Nghị định quy định khá chi tiết, thể hiện được tính minh bạch, trung thực của hàng hoá về mọi mặt, có cả danh tiếng (xuất xứ), đồng thời cũng xác định và giới hạn được trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá.
Các nội dung khác cũng góp phần làm cho tính minh bạch, tính chịu trách nhiệm được nâng cao hơn như các nội dung về định lượng, thành phần, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hạn bảo quản, thông tin kỹ thuật...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ, quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) trong năm 2026, gắn với phát triển ngành thủy sản bền vững...
Chuỗi triển lãm quốc tế về công nghiệp chế tạo, đóng gói và bán dẫn tại Hà Nội đặt trọng tâm vào việc thúc đẩy nội địa hóa và kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.