Cuối chiều 27/9, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành Thông tư số 19 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 13 ban hành ngày 20/5/2010.
Thông tư số 19 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/2010 và trong nội dung không có sửa đổi, bổ sung nào liên quan đến thời điểm có hiệu lực của Thông tư 13 ban hành trước đó. Như vậy, khẳng định đầu tiên là: Thông tư số 13 vẫn có hiệu lực từ ngày 1/10/2010 (tức chỉ còn lại 3 ngày nữa).
Điểm sửa đổi đầu tiên là trong Khoản 2 Điều 1 Thông tư 13 với một chi tiết nhỏ về các tỷ lệ bảo đảm an toàn quy định tại Thông tư: “Tỷ lệ cấp tín dụng
từ
nguồn vốn huy động” thay cho “Tỷ lệ cấp tín dụng
so với
nguồn vốn huy động”.
Điểm 1.1.c và Điểm 1.1.d Khoản 1 Điều 12 (liên quan đến tỷ lệ về khả năng chi trả, trong đó quy định cuối mỗi ngày, tổ chức tín dụng phải xác định và có các biện pháp để đảm bảo các tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau; điểm sửa đổi liên quan đến việc xác định tổng tài sản “Có” thanh toán ngay) được sửa đổi như sau:
“c. Số dư tiền gửi không kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi không kỳ hạn gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng Chính sách Xã hội;
d. Số dư tiền gửi có kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi có kỳ hạn đến hạn thanh toán gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng Chính sách Xã hội;”.
Còn tại Thông tư 13, những quy định trên là:
“c. Phần chênh lệch dương giữa số dư tiền gửi không kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi không kỳ hạn gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng Chính sách Xã hội và số dư tiền gửi không kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác gửi tại tổ chức tín dụng;
d. Phần chênh lệch dương giữa số dư tiền gửi có kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi có kỳ hạn đến hạn thanh toán gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng Chính sách Xã hội và số dư tiền gửi có kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng có kỳ hạn đến hạn thanh toán của các tổ chức tín dụng khác gửi tại tổ chức tín dụng;”.
Một nội dung sửa đổi quan trọng đưa ra trong Thông tư 19 là Mục 5 Thông tư 13 về “Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động”.
Tỷ lệ sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng vẫn được giữ nguyên, giới hạn đối với các ngân hàng là 80%, và với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng là 85%.
Nhưng ở việc xác định nguồn vốn huy động, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh theo hướng không loại trừ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước như quy định trong Thông tư 13 (Điểm 3.2 Điều 18).
Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động theo sửa đổi tại Thông tư 19 có bổ sung thêm 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng); không loại trừ tiền vay của tổ chức là Kho bạc Nhà nước và cho phép xác định thêm tiền tiền vay của tổ chức tín dụng khác có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên (trừ tiền vay để bù đắp thiếu hụt tạm thời đối với các tỷ lệ về khả năng chi trả), trong khi Thông tư 13 không cho đưa loại này vào xác định nguồn vốn huy động để cho vay.
Ngoài ra, Thông tư 19 có một số điểm sửa đổi cho Thông tư 13 trong Phụ lục 2 về bảng theo dõi tỷ lệ khả năng chi trả.
Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung Thông tư 13 đã chính thức có kết quả cuối cùng. Theo nội dung Thông tư 19 với những điểm chính nói trên, những sửa đổi và bổ sung là không nhiều; trong đó chủ yếu là sự ghi nhận cho các tổ chức tín dụng theo hướng mở rộng nhất định nguồn vốn được xác định vào nguồn vốn huy động để cho vay, chủ yếu là phần vốn từ Kho bạc Nhà nước, vốn vay các tổ chức tín dụng khác có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên, hay 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế.
Và trong Thông tư số 19 không đề cập đến các nội dung về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, hay hệ số rủi ro đối với các khoản cho vay đầu tư chứng khoán, kinh doanh bất động sản… Điều này đồng nghĩa với những quy định liên quan trong Thông tư 13 vẫn giữ nguyên, dù có những ý kiến cho rằng cần xem xét lại trong thời gian qua.
Về lộ trình, Thông tư 13 vẫn có hiệu lực từ ngày 1/10/2010.




Ngày 10/7, giá mua USD giảm nhẹ ở nhiều ngân hàng trong khi giá bán gần như đồng loạt được niêm yết kịch trần ở mức 26.474 VND. Trên thị trường tự do, giá mua đi ngang còn giá bán tăng 30 đồng so với phiên trước…
Ngân hàng Nhà nước vừa công bố báo cáo cán cân thanh toán (BOP) quý I/2026, cho thấy thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể 1,078 tỷ USD, chấm dứt chuỗi 3 quý liên tiếp thặng dư. Diễn biến này phản ánh cân đối đối ngoại đã kém thuận lợi hơn so với giai đoạn cuối năm 2025 khi xuất siêu hàng hóa thu hẹp và các dòng vốn ngắn hạn giảm tốc. Dù vậy, thị trường ngoại hối vẫn duy trì ổn định...
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý III/2026 của các tổ chức tín dụng cho thấy nhu cầu vay vốn của nhóm khách hàng là tổ chức kinh tế (doanh nghiệp) đã vượt nhóm khách hàng cá nhân, trở thành động lực tăng trưởng chính. Trong quý III/2026, các tổ chức tín dụng dự kiến cả huy động vốn và dư nợ tín dụng đều tăng bình quân 4,2%...
Chính phủ vừa hoàn thiện bộ máy Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặt mục tiêu xây dựng một trung tâm tài chính hiện đại, minh bạch và hội nhập quốc tế, gắn với vai trò đầu tàu của TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng…
Theo khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm trực tuyến của 36 ngân hàng thương mại ngày 6/7, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 - 12 tháng phổ biến ở mức 6,2 - 7%/năm. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều ngân hàng áp dụng các chương trình ưu đãi hoặc lãi suất thỏa thuận, giúp mức lãi suất khách hàng thực nhận cao hơn từ 0,8 - 2,5 điểm phần trăm so với biểu niêm yết...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.