Thưa ông, từ nhiều năm trở lại đây, sâm Ngọc Linh của Quảng Nam đã rất nổi tiếng trong cả nước, thậm chí được xuất khẩu sang nhiều quốc gia khác. Vậy cây “quốc bảo” này đã mang lại những đổi thay như thế nào cho đời sống người dân vùng trồng sâm?
Trong thời gian qua, cùng với giá trị của nó, cây sâm Ngọc Linh đã mang lại nhiều thay đổi cho người dân những vùng trồng sâm, cụ thể là: từ khi được đầu tư phát triển sản xuất cây sâm, thu nhập của người dân trong vùng được nâng lên một cách đáng kể, nhiều gia đình đã xây dựng được nhà cửa kiên cố, khang trang, mua sắm công cụ sản xuất cơ giới, xe ô tô làm phương tiện đi lại và vận chuyển sản phẩm hàng hóa... Nhiều gia đình có tài sản trị giá lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng. Việc đầu tư phát triển sản xuất cây sâm đã góp phần xóa đói, giảm nghèo ở địa phương một cách tích cực.
Cùng với đó là mạng lưới giao thông ở vùng trồng sâm được cải thiện và nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, trao đổi hàng hóa giữa các vùng, hạ tầng viễn thông, lưới điện được phủ kín các thôn, bản, giúp người dân có đời sống tốt hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Khi đời sống văn hóa của người dân được nâng cao, các di sản văn hóa ở địa phương được bảo tồn và phát huy giá trị như: Lễ hội Tết mùa, Lễ cúng thần sâm, Lễ cầu mưa, các điệu múa cồng chiêng; các làn điệu hát kcheo, calêu, plét... truyền thống ở địa phương được tổ chức thường xuyên, tạo không khí vui tươi phấn khởi trong các bản làng.
Phát triển sâm Ngọc Linh đã góp phần thúc đẩy phát triển du lịch tại địa phương, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm, giao lưu văn hóa với đồng bào cư dân ở địa phương.
Cùng với lợi ích kinh tế- xã hội thiết thực do cây sâm Ngọc Linh mang lại, thì ý thức của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng được nâng lên rõ rệt. Do cây sâm Ngọc Linh chỉ sống và phát triển tốt dưới tán rừng già nên người dân tích cực bảo vệ rừng nhằm đảm bảo cho việc phát triển sản xuất sâm Ngọc Linh. Từ đó việc đốt nương làm rẫy đã giảm hẳn, thậm chí không còn hiện tượng đốt rừng làm rẫy do người dân đã ý thức rõ hơn việc phục hồi rừng, bảo vệ môi trường sinh thái vùng đệm ở vùng trồng sâm Ngọc Linh.
Tỉnh Quảng Nam đã có những kế hoạch như thế nào để phát triển cây sâm Ngọc Linh cho xứng tầm với tiềm năng to lớn của loại cây đặc hữu này ở địa phương, thưa ông?
Việc phát triển sản xuất cây sâm Ngọc Linh được tỉnh xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, gắn phát triển sản xuất sâm Ngọc Linh với phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam. Phát triển sản xuất sâm Ngọc Linh theo hướng bền vững, gắn với công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu, cho nên phát triển sản xuất sâm Ngọc Linh không chỉ là lợi ích kinh tế của loại thảo dược đặc hữu mang lại mà còn gắn với phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa cộng đồng ở địa phương.
Trong thời gian tới, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam đề xuất và tổ chức thực hiện một số chương trình trọng tâm để phát triển cây “quốc bảo” này.
Một là, xây dựng chương trình đưa phát triển sâm Ngọc Linh thành ngành công nghiệp hiện đại, nhân rộng diện tích sản xuất, đẩy mạnh phát triển lĩnh vực chế biến, phát triển thị trường đầu ra sản phẩm, xứng tầm với thương hiệu “sản phẩm quốc gia”.
Hai là, xây dựng đề án hình thành và phát triển Trung tâm công nghiệp dược liệu tại Quảng Nam với sâm Ngọc Linh là cây chủ lực.
Ba là, tổ chức hội thảo khoa học cấp quốc gia về ứng dụng khoa học công nghệ trong việc phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu các sản phẩm từ dược liêu thiên nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Bốn là, tiếp tục duy trì và tổ chức các lễ hội về sâm Ngọc Linh và các phiên chợ dược liệu miền núi.
Hiện nay, Quảng Nam và người trồng sâm Ngọc Linh có gặp những khó khăn hoặc trở ngại nào không trong việc mở rộng vùng trồng, đảm bảo chất lượng sâm cũng như việc chế biến các sản phẩm cao cấp từ sâm Ngọc Linh, thưa ông?
Những khó khăn trong việc mở rộng diện tích trồng sâm Ngọc Linh không chỉ là nguồn cây giống sâm Ngọc Linh cung ứng để mở rộng diện tích, phát triển sản xuất còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu của người trồng; chi phí đầu tư cho sản xuất sâm Ngọc Linh rất lớn, nên nhiều hộ gia đình gặp khó khăn về vốn đầu tư trong việc mở rộng diện tích trồng sâm; mà còn là vấn đề dịch bệnh trên cây sâm Ngọc Linh cũng phần nào có ảnh hưởng đến việc đầu tư và mở rộng diện tích của người dân vùng trồng sâm.
Trong chế biến các sản phẩm cao cấp từ sâm Ngọc Linh cũng gặp những khó khăn như: cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác bảo quản, chế biến sâu các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh còn hạn chế, chưa đa dạng hóa sản phẩm; chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực chế biến các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh. Nguồn nguyên liệu sâm Ngọc Linh hiện nay còn ít, chưa đáp ứng nguyên liệu cho nhu cầu chế biến.
Được biết, sâm Ngọc Linh được các nhà khoa học đánh giá cao hơn một số loại sâm của nhiều quốc gia khác, ví dụ như sâm Hàn Quốc. Tuy nhiên, hiện việc quảng bá, phát triển thương hiệu sâm Ngọc Linh vẫn chưa thực sự hiệu quả. Vậy, Quảng Nam có kế hoạch gì cho việc quảng bá, truyền thông dài hơi về giá trị của sâm Ngọc Linh, thưa ông?
Quảng Nam xác định phát triển cây dược liệu và đặc biệt là sâm Ngọc Linh là tiềm năng thế mạnh, do vậy tỉnh rất quan tâm giới thiệu, quảng bá hình ảnh về loại cây trồng này. Ủy ban Nhân dân tỉnh đã tổ chức 2 cuộc hội thảo cấp quốc gia để giới thiệu quảng bá sâu rộng cây sâm Ngọc Linh và các sản phẩm đến với người tiêu dùng, gồm: hội thảo xây dựng chương trình phát triển sâm Việt Nam đến năm 2030, định hướng 2045; hội thảo “Sâm Ngọc Linh - Nâng tầm thương hiệu quốc gia” và cũng đã thực hiện quảng bá ở nhiều hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm khác.
Bên cạnh đó, thời gian qua, Lễ hội sâm Ngọc Linh hàng năm, các phiên chợ sâm Ngọc Linh và dược liệu định kỳ vẫn được duy trì tổ chức. Năm 2023, Quảng Nam dự kiến sẽ tổ chức Lễ hội sâm quốc gia; đồng thời trên cơ sở kinh nghiệm của các lễ hội sâm này để hướng tới một lễ hội sâm quốc tế cao hơn.
Để phát triển sâm Ngọc Linh, về cơ chế chính sách của Nhà nước, theo ông, cần điều chỉnh hoặc thay đổi những quy định nào để ngành trồng sâm tại Quảng Nam nói riêng và một số tỉnh có điều kiện thích nghi trồng loài sâm quý này đạt kết quả tốt hơn?
Trước hết, cần có sự điều chỉnh, thay đổi bằng văn bản ở cấp Trung ương về các quy định việc cho thuê môi trường rừng để trồng sâm Ngọc Linh đảm bảo quy định và thống nhất. Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn sản xuất giống, trồng, thu hoạch... phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo điều kiện cho sản phẩm sâm Ngọc Linh tiếp cận với thị trường thế giới.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2021 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loại động, thực vật hoang dã, nguy cấp.
Theo đó, sâm Ngọc Linh (tự nhiên) thuộc nhóm IA do Cơ quan quản lý CITES cấp mã số cơ sở gây trồng nhân tạo. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể để xác định thế nào là sâm Ngọc Linh (tự nhiên) và sâm Ngọc Linh nuôi trồng nhân tạo, nên việc cấp mã số cho cơ sở trồng thực vật hoang dã đối với cây sâm Ngọc Linh còn gặp rất nhiều khó khăn.
VnEconomy 26/01/2023 09:00
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số đặc biệt Xuân Quý Mão phát hành ngày 23-01-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam




Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Nông thôn đã đi một quãng dài từ chuyện đủ ăn, có điện, có đường, có trường, có trạm. Trên nền ấy, một lớp thay đổi khác đang hình thành: cánh đồng được quản trị bằng dữ liệu, phụ phẩm trở thành đầu vào mới, sản vật quê nhà có thương hiệu, có mã truy xuất, có thể bán qua một chiếc điện thoại. Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh gặp nhau ở những việc rất gần với người dân: làm ra nhiều giá trị hơn trên đất cũ, giảm phần phải bỏ đi, giữ môi trường sống và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.
Bắc Trung Bộ từng được biết đến là một trong những dải đất gặp nhiều khó khăn nhất Việt Nam do địa hình dẹp ngang, thiên tai khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dấu tích chiến tranh. Nhưng hôm nay, chính những yếu tố từng bị xem là bất lợi đang được đánh giá lại. Biển mở ra không gian kinh tế, Trường Sơn nối với các hành lang giao thương, còn cao tốc rút ngắn khoảng cách, tiết giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tài nguyên tự nó chưa tạo nên lợi thế. Giá trị xuất hiện khi con người biết tổ chức, kết nối và sử dụng tài nguyên đúng cách.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.