Cuối tuần qua, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) họp đánh giá kết quả xuất khẩu gạo chín tháng đầu năm 2010. Thông tin nổi bật từ cuộc họp là, Việt Nam đã bán hết gạo lúc giá thấp, lúc giá tăng thì không còn để bán.
Tính đến hết tháng 9, theo thống kê của VFA, doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu gần 6,5 triệu tấn gạo. Nếu cộng cả 300.000 tấn gạo 15% tấm vừa bán cho Indonesia, thì lượng gạo có hợp đồng đã lên tới 6,8 triệu tấn, vượt so với kế hoạch dự kiến 6 – 6,5 triệu đề ra cho năm nay. Trong số hợp đồng đã ký, doanh nghiệp giao cho khách hàng 5,393 triệu tấn, còn lại khoảng 1,4 triệu tấn sẽ thực hiện từ nay đến hết năm.
Theo tính toán của cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nếu diễn biến mùa vụ thuận lợi, thì từ nay đến cuối năm 2010, tổng lượng gạo hàng hoá thu hoạch được cần tiêu thụ khoảng 1,3 – 1,5 triệu tấn. Số gạo này, có thể đáp ứng đủ cho hợp đồng còn lại chưa giao (khoảng 1,4 triệu tấn). Thế nhưng, yếu tố thời tiết, quyết định phần lớn đến năng suất mùa vụ vẫn còn là ẩn số.
Dù cân đối lượng gạo hàng hoá vụ mùa và thu đông như vậy, nhưng thực tế từ nhiều năm nay, chỉ có khoảng phân nửa trong số đó dùng xuất khẩu, còn lại tiêu thụ nội địa và làm giống vụ sau. Người đứng đầu VFA, ông Trương Thanh Phong cũng thừa nhận không thể đem bán hết gạo mùa và thu đông. Vì một phần trong số này còn phải dùng gối đầu cho các hợp đồng xuất khẩu quý 1 năm sau, số lượng khoảng 200.000 – 300.000 tấn.
Trước tình hình trên, từ đầu tháng 9, VFA liên tục điều chỉnh giá sàn xuất khẩu. Đây có thể được coi như giải pháp hạn chế xuất khẩu. Khi giá sàn nâng lên 475 USD/tấn gạo 5% tấm và 445 USD/tấn 25% tấm, sẽ không doanh nghiệp nào bán được vì giá thực giao dịch trên thị trường thấp hơn. Thực tế trong tháng 9, số hợp đồng ký mới chỉ có 195.000 tấn, giảm gần 80% so với tháng 8, trong đó riêng hợp đồng tập trung chiếm 110.000 tấn.
Tháng 9.2010, Indonesia yêu cầu cung cấp 500 ngàn tấn gạo với giá cao, nhưng lo ngại thiếu hụt nguồn cung nên Việt Nam chỉ dám bán 300 ngàn tấn, số còn lại họ phải mua từ Thái Lan.
Cuộc họp cuối tuần qua, giám đốc nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng thừa nhận: “Chúng ta quá xao động, vội vàng bán gạo ra ồ ạt trong thời điểm giá thấp”.
Theo tính toán, chỉ trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 8, do không bị khống chế giá sàn xuất khẩu, nên doanh nghiệp bán ra tới trên 3,5 triệu tấn gạo với mức giá 320 – 350 USD/tấn gạo 5% tấm và 290 – 310 USD/tấn loại 25% tấm. So với giá sàn VFA hướng dẫn hiện nay, thì mỗi tấn gạo bị mất ít nhất 120 USD. Tính ra tổng cộng mất ít nhất 420 triệu USD do bán giá thấp.
Dự báo thị trường gạo không dễ dàng bởi bị chi phối khá nhiều từ yếu tố thiên tai, thời tiết. Tuy nhiên, cũng trong hoàn cảnh như vậy, Thái Lan lại có cách ứng phó tốt hơn. Thay vì ồ ạt bán ra, họ trữ lại kho, và chỉ đến thời điểm tháng 7 trở đi, khi giá gạo thế giới tăng cao họ mới bắt đầu đem bán.
Với năng lực kho khoảng 3 triệu tấn (theo VFA công bố), doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể học cách làm của người Thái.
Minh Khoa
(SGTT)
Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, những vướng mắc trong xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và xử lý thuế VAT đang khiến doanh nghiệp phát sinh chi phí, tồn đọng vốn và gặp khó trong kế hoạch sản xuất...
Việc kết nối hạ tầng và phối hợp nguồn lực giữa hai cảng nước sâu liền kề tại Cái Mép - Thị Vải vừa qua đã mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn năng lực hiện hữu trong bối cảnh các hãng tàu ngày càng yêu cầu cao về quy mô tiếp nhận và năng suất xếp dỡ.
Theo Ủy ban châu Âu (EC), tổng giá trị năng lượng Nga mà EU đã mua kể từ năm 2022 vào khoảng 209 tỷ USD, thấp hơn 112 tỷ USD so với con số mà phía Moscow công bố, trong bối cảnh khối này đẩy mạnh giảm phụ thuộc vào nguồn cung năng lượng từ Nga…
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.