Hội đồng Nhân dân tỉnh Bắc Ninh khóa XX vừa thông qua Nghị quyết điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây được xem là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa các định hướng phát triển mới sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, đồng thời mở rộng dư địa tăng trưởng, tạo động lực đưa Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.
Theo quy hoạch điều chỉnh, phạm vi quy hoạch bao gồm toàn bộ phần lãnh thổ đất liền của tỉnh với diện tích tự nhiên 4.718,31 km2, gồm 99 đơn vị hành chính cấp xã (33 phường và 66 xã).
Mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời là một cực tăng trưởng kinh tế quan trọng của miền Bắc và cả nước, phát triển theo mô hình công nghiệp - dịch vụ xanh, hiện đại dựa trên nền tảng kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tỉnh hướng tới xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, có khả năng kết nối liên tỉnh, liên vùng và quốc tế; bảo đảm quốc phòng, an ninh và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bắc Ninh đặt ra nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tham vọng trong giai đoạn 2026 - 2030.
Theo đó, tỉnh phấn đấu đạt GRDP bình quân tăng từ 11 - 13%/năm trong giai đoạn này; GRDP bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2030 đạt khoảng 9.200 - 10.000 USD; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 45% trở lên; tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn giai đoạn 2026 - 2030 đạt khoảng 2.500 nghìn tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2026 - 2030 đạt khoảng 1,1 nghìn tỷ USD; tỷ lệ đô thị hóa năm 2030 đạt 65%.
Về phát triển xã hội, tỉnh phấn đấu đến hết năm 2027 không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 90%; 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế vào năm 2030; hoàn thành 135.000 căn nhà ở xã hội và nâng tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung lên 96,4%.
Tầm nhìn đến năm 2050, Bắc Ninh được định hướng trở thành hình mẫu đô thị xanh, văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc văn hóa Kinh Bắc; sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông tiên tiến, chất lượng sống cao và là một trong những thành phố đáng sống của khu vực châu Á.
Nền kinh tế vận hành theo mô hình kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo đóng vai trò động lực tăng trưởng chủ đạo. Tỉnh cũng đặt mục tiêu hình thành trung tâm công nghiệp điện tử hàng đầu khu vực và trung tâm hàng không hiện đại của châu Á - Thái Bình Dương.
Để tạo nền tảng cho quá trình phát triển, quy hoạch xác định bốn đột phá chiến lược gồm hoàn thiện thể chế phát triển; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Về định hướng phát triển ngành, Bắc Ninh tập trung vào các trụ cột gồm công nghiệp; thương mại - dịch vụ; nông, lâm nghiệp và thủy sản; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó, công nghiệp được phát triển theo hướng công nghệ cao, hiện đại và thân thiện với môi trường, gắn với hệ thống khu kinh tế, khu công nghiệp và cụm công nghiệp đồng bộ.
Song song với đó, tỉnh hướng tới xây dựng trung tâm thương mại - dịch vụ có tầm vóc quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị hiện đại và bền vững. Khu vực nông nghiệp được định hướng phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng và tăng cường liên kết chuỗi. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là nền tảng cốt lõi và động lực thúc đẩy tăng trưởng theo chiều sâu.
Đáng chú ý, quy hoạch cũng đặt trọng tâm phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại và đa phương thức, bảo đảm kết nối hiệu quả với mạng lưới giao thông quốc gia và các hành lang kinh tế liên vùng. Nhiều công trình hạ tầng chiến lược mang tính đột phá được xác định là động lực tăng trưởng mới của tỉnh như Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, đường Vành đai 4, Vành đai 5, tuyến kết nối sân bay Gia Bình với Hà Nội cùng các tuyến đường sắt quốc gia, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Với gần 7.300 doanh nghiệp đang hoạt động, thành phố Huế đang đẩy mạnh cải cách hành chính, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Qua đó, địa phương hướng tới xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, trong khi tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của thành phố Huế mới đạt 51,3% kế hoạch được giao. Thành phố đang tập trung rà soát từng dự án, xác định rõ trách nhiệm xử lý vướng mắc, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho những công trình có khả năng hoàn thành và giải ngân.
Thành phố Đà Nẵng đang nỗ lực hạ quyết tâm đạt mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công vào cuối năm 2026, với tổng số vốn được Thủ tướng Chính phủ giao là hơn 17.191 tỷ đồng và Hội đồng nhân dân TP.Đà Nẵng giao là hơn 18.465 tỷ đồng. Đây là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và cải thiện hạ tầng của thành phố.
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2026 đạt 9,75%, thu ngân sách đạt 25.711 tỷ đồng, Nghệ An ghi nhận những đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp. Tỉnh đồng thời cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp phát triển.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.