Ngày 8/7, tại Tọa đàm "Việc làm thời AI: Thách thức và cơ hội cho phụ nữ, thanh niên", ông Vũ Quang Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội (thuộc Sở Nội vụ), nhận định nhiều lĩnh vực đang chịu tác động rõ nét của trí tuệ nhân tạo (AI).
Theo ông Thành, sự phát triển của công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế số đang tạo ra những thay đổi sâu rộng trên thị trường lao động, cũng như trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
AI đang tác động rõ nét đến năm nhóm lĩnh vực gồm: Dịch vụ khách hàng, telesale và tổng đài; hành chính, kế toán, nhập liệu; sáng tạo nội dung và dịch thuật; công nghệ thông tin; sản xuất và logistics.
Đối với phụ nữ và thanh niên, AI ảnh hưởng đến nhiều ngành nghề, trong đó có bốn nhóm chịu tác động rõ nhất.
Thứ nhất, là khối hành chính - văn phòng và kế toán cơ bản. Đây là lĩnh vực có tỷ lệ lao động nữ cao, với nhiều vị trí làm việc theo quy trình nên dễ được AI hỗ trợ hoặc thay thế. Hiện nay, các hệ thống AI có thể xử lý nhiều nghiệp vụ nhanh và hiệu quả hơn, khiến nhu cầu lao động ở một số vị trí giảm đáng kể.
Thứ hai, là lĩnh vực dịch vụ khách hàng, bán lẻ và bán buôn. Đây chủ yếu là những công việc phổ thông, không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao. Nhiều khâu đã được thay thế bằng các hệ thống trả lời tự động và trợ lý ảo.
Thứ ba, là ngành dệt may, da giày. Tại các doanh nghiệp quy mô lớn, việc ứng dụng robot và dây chuyền tự động vào những công đoạn lặp đi lặp lại sẽ tác động trực tiếp đến lao động giản đơn, trong đó phần lớn là lao động nữ.
Thứ tư, là lĩnh vực sáng tạo, thiết kế và truyền thông. Đây là nhóm nghề có nhiều công việc có thể được AI hỗ trợ hoặc thay thế, làm thay đổi cách thức làm việc và yêu cầu về kỹ năng của người lao động.
Từ góc độ cơ sở đào tạo, bà Phạm Thị Hường, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp Hà Nội, cũng nhận định, trong 5 năm tới, sự bùng nổ của AI và tự động hóa sẽ đào thải những lao động chậm thích nghi.
Trong khi đó, thách thức lớn nhất đối với lao động trẻ hiện không chỉ là tiếp cận công nghệ, mà còn là khả năng ứng dụng công nghệ vào thực tiễn. Nhiều lao động trẻ có nền tảng chuyên môn nhưng còn thiếu kỹ năng số chuyên sâu cùng các kỹ năng mềm, như giao tiếp, làm việc nhóm, kỷ luật lao động và năng lực quản lý.
Theo các chuyên gia, bối cảnh mới của thị trường lao động đặt ra yêu cầu về mô hình đào tạo cần theo "đơn đặt hàng" của doanh nghiệp. Theo đó, các cơ sở đào tạo cần sớm bổ sung các năng lực bổ trợ như sử dụng công cụ số chuyên dụng, làm việc nhóm, kỷ luật lao động và kỹ năng quản lý.
Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội Phạm Thị Hường, thông tin hiện đơn vị này có 15/25 ngành được doanh nghiệp đặt hàng đào tạo, đòi hỏi chương trình giảng dạy phải liên tục cập nhật công nghệ, bám sát dây chuyền sản xuất thực tế. Năm nay, nhà trường chính thức đưa kỹ năng số và kinh tế số vào chương trình đào tạo chính quy.
Mục tiêu là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể đáp ứng công việc ngay sau khi tốt nghiệp, giảm thời gian doanh nghiệp phải đào tạo lại.
Qua đó, giúp người lao động trẻ tự tin làm chủ công nghệ, nâng cao cơ hội việc làm và thu nhập trong bối cảnh thị trường lao động nhiều biến động.
Đồng quan điểm, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội Vũ Quang Thành, cũng cho rằng, thời gian tới, các cơ sở đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để đào tạo nhân lực theo hướng chuyên sâu, tăng cường ứng dụng công nghệ số ngay từ nhà trường.
Bên cạnh kiến thức chuyên môn, sinh viên cần được trang bị kỹ năng số và kỹ năng mềm để có thể nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc thực tế.
Đặc biệt, trước làn sóng AI đang tác động mạnh đến cơ cấu việc làm và thị trường lao động, thay vì xem AI là mối đe dọa, người lao động nên nhìn nhận đây là quá trình dịch chuyển và tái cấu trúc nghề nghiệp. Mỗi người cần chủ động định vị lại năng lực bản thân, phát huy những thế mạnh sẵn có, đồng thời không ngừng học tập, rèn luyện để đáp ứng yêu cầu của các công việc mới.
Theo ông Thành, mối quan hệ giữa AI và con người trên thị trường lao động không hẳn là một cuộc chiến sinh tử, mà cần được nhìn nhận như một làn sóng công nghệ mới. “
AI có thể thay thế những công việc giản đơn, mang tính lặp lại. Khi đó, nguồn nhân lực sẽ được dịch chuyển sang những phân khúc nghề nghiệp mới, tạo ra giá trị cao hơn, nâng cao hiệu quả và năng suất lao động", ông Thành cho hay.
Bên cạnh những công việc chịu tác động, các chuyên gia cũng cho rằng AI khó có thể thay thế khả năng về tư duy phản biện; kết nối, xây dựng niềm tin, thấu cảm và chia sẻ giữa con người với nhau; tư duy sáng tạo đột phá để hình thành những ý tưởng mới; cũng như năng lực kiểm soát, vận hành và làm chủ các hệ thống công nghệ.



Dự án được Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức, với tổng vốn 15 triệu Euro. Thời gian triển khai đến 30/12/2030...
Nhu cầu tuyển dụng lao động quý 2/2026 có sự dịch chuyển động lực giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, khi Hà Nội đã vươn lên dẫn đầu cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng tuyển dụng, phản ánh xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp tại khu vực phía Bắc…
Qua tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy có 47 nội dung không rõ ràng, gây khó khăn, vướng mắc, tạo “điểm nghẽn” trong áp dụng, thực hiện pháp luật, cản trở quá trình phát triển...
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) chiều 23/7 đã có văn bản khẩn gửi Sở Y tế tỉnh Nghệ An đề nghị rà soát, kiểm tra đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn...
TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ đầu mối từ kiểm soát nguồn hàng, truy xuất nguồn gốc, lấy mẫu giám sát đến ứng dụng công nghệ trong quản lý, hướng tới xây dựng các chợ đầu mối đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chợ đầu mối kinh doanh thực phẩm...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.